Phân tích cảm hứng lãng mạn và tính chất bi tráng của bài thơ Tây Tiến

Sep 27 2008 21:10:00

 

Gợi ý làm bài:


1.Cảm hứng lãng mạn:

    - Lãng mạn là cảm hứng chủ đạo của nhà thơ Quang Dũng ở bài thơ Tây Tiến. Chính nguồn cảm hứng ấy đã biến thành nguồn cảm xúc tuôn trào thôi thúc nhà thơ sáng tác. Do đó bài thơ viết về Tây Bắc và những người lính Tây Tiến nhưng lại là một tác phẩm trữ tình một cái tôi cá nhân đầy cảm xúc với nỗi nhớ khi đong đầy tràn ngập khi bâng khuâng luyến tiếc.

    - Cảm hứng lãng mạn thể hiện ở cái nhìn đối với thiên nhiên:

    +Thiên nhiên Tây Bắc với núi đồi trùng điệp hiểm trở nhưng với con mắt của những người lính Tây Tiến những cảnh tượng ấy lại có vẻ đẹp tươi mới hấp dẫn của sự khám phá kiếm tìm.

    +Hơn nữa người lính
Tây Tiến còn tìm thấy ở đó những cảnh thơ mộng.

    - Cảm hứng lãng mạn thể hiện ở chân dung người lính lãng mạn hào hoa:

    +Xem thường nguy nan xem thường bệnh tật cái chết.

    +Ấp ủ nhiều ước mơ tươi đẹp.

    - Cảm hứng lãng mạn thể hiện ở giọng điệu (khi mềm mại thiết tha lúc hùng tráng khoẻ mạnh) ở thủ pháp tương phản (hình ảnh) từ ngữ ước lệ... Đây là những hình thức nghệ thuật rất đặc thù của thơ ca lãng mạn nói chung.

2.Tính chất bi tráng:


    Tính chất bi tráng luôn bao hàm cả hai yếu tố "bi" và "tráng" đau thương và cao cả. Cả hai yếu tố này gắn bó cái bi hàm nền tôn vinh sự hùng tráng cao cả. Tính chất bi tráng ở bài thơ Tây Tiến thể hiện ở:

    - Sự miêu tả trực tiếp không né tránh những khắc nghiệt nguy nan luôn rình rập người lính
Tây Tiến trên những bước đường hành quân (địa hình hiểm trở thú rừng hung dũ bệnh tật...). Đặc biệt Quang Dũng đã không ngần ngại khi nói đến cái chết điều mà văn học kháng chiến trong thời gian dài thường né tránh:

        Rải rác biên cương mồ viễn xứ
        .....................................
        Áo bào thay chiếu anh về đất

    - Nhưng khi miêu tả những cảnh đau thương kể cả cái chết lời thơ Quang Dũng không làm mềm lòng người đọc. Trái lại tính chất hùng tráng đã bật lên từ cái bi bởi đó là cái chết vì lys tưởng cao cả (Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh); cái chết đã hoá thành bất tử (Áo bào thay chiếu anh về đất).

    - Góp phần tạo nên vẻ đẹp bi tráng ở
Tây Tiến là những nét đặc sắc về nghệ thuật. Hàng loạt từ Hán Việt (biên giới biên cương viễn xứ chiến trường...) âm thanh gầm thét của sông Mã đã góp phần mang tính chất nghi lễ. Cần lưu ý là khi nói đến cái chết nhưng Quang Dũng không dùng động từ đó. Cái chết đối với người lính Tây Tiến là một sự dâng hiến và khi đã dâng hiến thì họ trở về với đất nước ở trong sự chở che đùm bọc của Tổ quốc.

3. Đánh giá


    - Cảm hứng lãng mạn là ngọn nguồn thôi thức sáng tác đối với Quang Dũng cũng là vẻ đẹp riêng có ở Tây Tiến.

    - Tính chất bi tráng là sự thể hiện cao nhất của nguồn
cảm hứng lãng mạn. Chính tính chất bi tráng ấy đã tạo nên tượng đài bất tử về người lính Tây Tiến.

More.....

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH TÂY TIẾN KHỔ 3

Sep 25 2008 22:22:34



BÚT TÍCH BÀI THƠ TÂY TIẾN

Bình giảng 8 dòng thơ:

"Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc - Quân xanh màu lá dữ oai hùm - Mắt trừng gửi mộng qua biên giới - Đêm mơ Hnội dáng kiều thơm - Rải rác biên cương mồ viễn xứ - Chtrường đi chẳng tiếc đời xanh - áo bào thay chiếu anh về đất - Sông Mã gầm lên khúc độc hành"

MỞ BÀI

   Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi bụi thời gian có thể phủ dày lên hình ảnh của những anh hùng vô danh nhưng văn học với sứ mệnh thiêng liêng của nó đã khắc tạc một cách vĩnh viễn vào tâm hồn người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước đã ngã xuống vì nền độc lập của Tổ quốc trong suốt trường kỳ lịch sử. ở trong thơ Quang Dũng cũng đã dựng lên một bức tượng đài bất tử như vậy về người lính cách mạng trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược nước ta. Đó là bức tượng đài đã làm cho những người chiến sĩ yêu nước từng ngã xuống trong những tháng năm gian khổ ấy bất tử cùng thời gian

"Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc - Quân xanh màu lá dữ oai hùm - Mắt trừng gửi mộng qua biên giới - Đêm mơ Hnội dáng kiều thơm - Rải rác biên cương mồ viễn xứ - Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh - áo bào thay chiếu anh về đất - Sông Mã gầm lên khúc độc hành"

THÂN BÀI

"Tây Tiến" của Quang Dũng là dòng hồi ức vô cùng thương nhớ về những đồng đội của nhà thơ những người đã từng sống từng chiến đấu nhưng cũng có người đã hy sinh những người đã trở về với đất mẹ yêu thương nhưng dẫu sao đó cũng là những người mãi mãi nằm lại nơi biên cương hay miền viễn xứ. Chính vì thế QDũng không chỉ dựng lại cả một hình ảnh của đoàn binh Tây Tiến trên những chặng đường hành quân gian khổ hy sinh mà "đời vẫn cứ tươi" như ở 14 dòng thơ đầu tiên. Và QDũng cũng không chỉ khắc tạc hình ảnh của những người lính với một đời sống tình cảm hết sức phong phú những tình cảm lớn lao là tình quân dân. QDũng đã đặc biệt quan tâm tới ý tưởng dựng tượng đài người lính Tây Tiến trong tác phẩm của mình. Nhà thơ đã sử dụng hệ thống ngôn ngữ giàu hình ảnh hàng loạt những thủ pháp như tương phản nhân hoá tăng cấp ý nghĩa để tạo ấn tượng mạnh để khắc tạc một cách sâu sắc vào tâm trí người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước của dtộc. Đó là bức tượng đài sừng sững giữa núi cao sông sâu giữa một không gian hùng vĩ như chúng ta đã thấy trong các câu thơ

"Tây Tiến đoàn quân ..... khúc độc hành"

     Bức tượng đài người lính Tây Tiến trước hết được khắc hoạ lên từ những đường nét nhằm tô đậm cuộc sống gian khổ của họ. Nếu như ở những đoạn thơ trước đó người lính mới chỉ hiện ra trong đoàn quân mỏi trong câu:

" Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi "

hay trong khung cảnh hết sức lãng mạn trong đêm liên hoan đêm lửa trại thắm tình cá nước thì ở đây là hình ảnh đoàn binh không mọc tóc da xanh như lá rừng. Cảm hứng chân thực của QDũng đã không né tránh việc mô tả cuộc sống gian khổ mà người lính phải chịu đựng. Những cơn sốt rét rừng làm tóc họ không thể mọc được (chứ không phải họ cố tình cạo trọc để đánh giáp lá cà cho dễ như nhiều người từng nói). Cũng vì sốt rét rừng mà da họ xanh như lá cây (chứ không phải họ xanh màu lá nguỵ trang) vẻ ngoài dường như rất tiều tuỵ. Nhưng thế giới tinh thần của người lính lại cho thấy họ chính là những người chiến binh anh hùng họ còn chứa đựng cả một sức mạnh áp đảo quân thù họ dũng mãnh như hổ báo hùm beo. Cái giỏi của QDũng là mô tả người lính với những nét khắc khổ tiều tuỵ nhưng vẫn gợi ra âm hưởng rất hào hùng của cuộc sống. Bởi vì câu thơ "Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc" với những thanh trắc rơi vào trọng âm đầu của câu thơ như "tiến" "mọc tóc". Nhờ những thanh trắc ấy mà âm hưởng của câu thơ vút lên. Chẳng những thế họ còn là cả một đoàn binh. 2 chữ "đoàn binh" âm Hán Việt đã gợi ra một khí thế hết sức nghiêm trang hùng dũng. Và đặc biệt hai chữ "Tây Tiến" mở đầu câu thơ không chỉ còn là tên gọi của đoàn binh nữa nó gợi ra hình ảnh một đoàn binh dù đầu không mọc tóc vẫn đang quả cảm tiến bước về phía Tây. Thủ pháp tương phản mà QDũng sử dụng ở câu thơ "Quân xanh màu lá dữ oai hùm" không chỉ làm nổi bật lên sức mạnh tinh thần của người lính mà còn thấm sâu màu sắc văn hoá của dân tộc. ở đây nhà thơ không chỉ muốn nói rằng những người lính Tây Tiến như chúa sơn lâm không phải muốn "động vật hoá" người lính Tây Tiến mà muốn nói tới sức mạnh bách chiến bách thắng bằng một hình ảnh quen thuộc trong thơ văn xưa. Phạm Ngũ Lão cũng ca ngợi người anh hùng vệ quốc trong câu thơ

"Hoành sóc giang san cáp kỷ thu - Tam quan kỳ hổ khí thôn ngưu"

   Và ngay cả Hồ Chí Minh trong "Đăng sơn" cũng viết

"Nghĩa binh tráng khí thôn ngưu đẩu - Thể diện sài long xâm lược quân"

    Có thể nói QDũng đã sử dụng một môtíp mang đậm màu sắc phương Đông để câu thơ mang âm vang của lsử hình tượng người lính cách mạng gắn liền với sức mạnh truyền thống của dtộc. Đọc câu thơ: "Quân xanh màu lá dữ oai hùm" ta như nghe thấy âm hưởng của một hào khí ngút trời Đông á.

    Hình tượng người lính Tây Tiến bỗng nhiên trở nên rất đẹp khi QDũng bổ sung vào bức tượng đài này chất hào hoa lãng mạn trong tâm hồn họ

"Mắt trừng gửi mộng qua biên giới - Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm"

     Trước hết đó là một vẻ đẹp tấm lòng luôn hướng về Tquốc hướng về Thủ đô. Người lính dẫu ở nơi biên cương hay viễn xứ xa xôi mà lòng lúc nào cũng hướng về HNội. Ta bỗng nhớ đến câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ:

"Từ thuở mang gươm đi mở nước - Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long"

     Người lính Tây Tiến dẫu "mắt trừng gửi mộng qua biên giới" mà niềm thương nỗi nhớ vẫn hướng về một "dáng kiều thơm". Đã một thời với cái nhìn ấu trĩ người ta phê phán thói tiểu tư sản thực ra nhờ vẻ đẹp ấy của tâm hồn mà người lính có sức mạnh vượt qua mọi gian khổ người lính trở thành một biểu tượng cho vẻ đẹp của con người Việt Nam. QuDũng đã tạo nên một tương phản hết sức đặc sắc - những con người chiến đấu kiên cường với ý chí sắt thép cũng chính là con người có một đsống tâm hồn phong phú. Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà còn rất hào hoa giữa bao nhiêu gian khổ thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động trong một nỗi nhớ về một dáng kiều thơm nhớ về vẻ đẹp của Hà Nội - Thăng Long xưa.

     Bức tượng đài người lính Tây Tiến đã được khắc tạc bằng những nguồn ánh sáng tương phản lẫn nhau vừa hiện thực vừa lãng mạn. Từng đường nét đều như nổi bật và tạo được những ấn tượng mạnh mẽ. Đây cũng là đặc trưng của thơ QDũng.

     Nếu như ở 4 câu thơ trên người lính Tây Tiến hiện ra trong hình ảnh một đoàn binh với những bước chân Tây tiến vang dội khí thế hào hùng và một thế giới tâm hồn hết sức lãng mạn thì ở đây bức tượng đài người lính Tây Tiến được khắc tạc bằng những đường nét nổi bật về sự hy sinh của họ. Nếu chỉ đọc từng câu thơ chỉ phân tích từng hình ảnh riêng rẽ độc lập người ta dễ cảm nhận một cách bi luỵ về cái chết của người lính mà thơ ca kháng chiến thuở ấy rất ít khi nói đến. Bởi thơ ca kháng chiến phần lớn chỉ quan tâm đến cái hùng mà không quan tâm đến cái bi. Nhưng nếu đặt các hình ảnh các câu thơ vào trong chỉnh thể của nó ta sẽ hiểu QDũng đã mô tả một cách chân thực sự hy sinh của người lính bằng cảm hứng lãng mạn hình tượng vì thế chẳng những không rơi vào bi lụy mà còn có sức bay bổng.

   Có thể thấy câu thơ: "Rải rác biên cương mồ viễn xứ" nếu tách riêng ra rất dễ gây cảm giác nặng nề bởi đó là câu thơ nói về cái chết về nấm mồ của người lính Tây Tiến ở nơi "viễn xứ". Từng chữ từng chữ dường như mỗi lúc một nhấn thêm nốt nhạc buồn của khúc hát hồn tử sĩ. Chẳng phải thế sao? Nói về những nấm mồ lại là những nấm mồ "rải rác" dễ gợi sự hoang lạnh lại là "rải rác" nơi "viễn xứ" những nấm mồ ấy càng gợi sự cô đơn côi cút. QDũng muốn nói tới nơi yên nghỉ của những người đồng đội

"Anh bạn dãi dầu không bước nữa - Gục lên súng mũ bỏ quên đời"

   Trong Chinh phụ ngâm:

"Hồn tử sĩ gió về ù ù thổi - Mặt chinh phu trăng rõi rõi soi - Chinh phu tử sĩ mấy người - Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn"

    Tuy nhiên với câu thơ thứ hai ta lại thấy hình ảnh những nấm mồ rải rác nơi biên cương đã trở về với sự ấm cúng của niềm biết ơn của nhân dân của đất nước. Bởi đó chính là nấm mồ của những người con anh dũng

"Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh"

    Đồng thời cũng chính câu thơ thứ 2 đã làm cho những nấm mồ rải rác kia được nâng lên những tầng cao của đài tưởng niệm của Tổ quốc đối với người lính đã vì tiếng gọi của chiến trường mà hiến dâng tuổi xanh của mình. Trong thơ QDũng luôn là một sự nâng đỡ nhau của nhiều hình ảnh như vậy.

Sự hy sinh của người lính còn được tráng lệ hoá trong câu thơ

"áo bào thay chiếu anh về đất"

     Bao nhiêu thương yêu của QDũng trong một câu thơ như vậy về một đồng đội của mình. Ai bảo QDũng không xót thương những người đồng đội của mình ra đi trong cách tiễn đưa ấy cảnh tiễn đưa với bao thiếu thốn khó khăn cái thuở những người lính Tây Tiến chết vì sốt rét nhiều hơn chết vì chiến trận. Lại trong cảnh kháng chiến còn rất khó khăn nên tiễn đưa người chết không có cả một chiếc quan tài. Hoàng Lộc trong  "Viếng bạn" cũng đã viết về cảnh tiễn đưa như thế

"ở đây không manh ván - Chôn anh bằng tấm chăn - Của đồng bào Cứa Ngàn - Tặng tôi ngày sơ tán"

      Chỉ có điều câu thơ của QDũng không dừng lại ở mức tả thực mà đẩy lên thành cảm hứng tráng lệ coi chiếu là áo bào để cuộc tiễn đưa trở nên trang nghiêm cổ kính. Cũng có người hiểu đến chiếc chiếu cũng không có chỉ có chính tấm áo của người lính. Dù hiểu theo cách nào thì cũng phải thấy QDũng đã tráng lệ hoá cuộc tiễn đưa bi thương bằng hình ảnh chiếc áo bào và sự hy sinh của người lính đã được coi là sự trở về với đất nước với núi sông. Cụm từ "anh về đất" nói về cái chết nhưng lại bất tử hoá người lính nói về cái bi thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ. Mạch cảm xúc ấy đã dẫn tới câu thơ đầy tính chất tráng ca

"Sông Mã gầm lên khúc độc hành"

    

KẾT BÀI

Từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn QDũng đã dựng lên bức chân dung một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp. Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến ấy. Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của QDũng đối với những người đồng đội đối với đất nước của mình. Vì thế từ bức tượng đài đã vút lên khúc hát ngợi ca của nhà thơ cũng như của cả đất nước về những người con anh hùng ấy.


More.....

BÀI LÀM KHỔ 1 TÂY TIẾN

Sep 25 2008 22:16:22


Phân tích khổ một bài thơ Tây Tiến.


MỞ BÀI

"Tây Tiến" của Quang Dũng có thể coi là một trong những bông hoa tươi thắm nhất của chùm hoa thơ viết về anh bộ đội cụ Hồ trong thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ ngay từ khi ra đời đã tạo một sức sống hết sức mạnh mẽ và bền bỉ trong lòng người đọc. Sức sống ấy có được là nhờ ngòi bút của QDũng đã từ những cảm hứng vừa hiện thực vừa bay bổng lãng mạn khi khắc hoạ hình tượng người chiến sĩ vệ quốc như một khúc ca bi tráng vang lên giữa một bản đại hùng ca của toàn dân tộc trong những tháng năm bảo vệ đất nước mình. Hình tượng người lính với sự hoà trộn các sắc màu vừa hiện thực vừa lãng mạn đã được hiện ra ngay từ phần thứ nhất của bài thơ phần mô tả vẻ đẹp của người lính gắn liền với những chặng đường hành quân của họ. Thiên nhiên và con người đan xen hoà quyện lẫn nhau để tạo nên sự hoành tráng của bức tranh cuộc sống sự kỳ vĩ lớn lao của con người. Đó là đoạn thơ:

        "Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi...

.........Mai Châu mùa em thơm nếp xôi"

 

THÂN BÀI

 "Tây Tiến" nói đúng ra là những hoài niệm đầy nhớ thương và tự hào của QDũng về những người đồng đội của mình trong đoàn binh Tây Tiến đoàn binh có nhiệm vụ từ HNội Hà Tây tiến thẳng lên Tây Bắc giải phóng vùng biên giới Việt-Lào rồi giúp nước bạn giải phóng vùng thượng Lào tạo nên một vùng an toàn cho chiến khu của chúng ta; về những tháng năm vô cùng gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng của đoàn binh Tây Tiến gắn liền với những vùng đất mà họ đã đi qua đã chiến đấu và chiến thắng. Sau những bước chân trường chinh Tây Tiến đoàn binh đã được phiên chế thành những đơn vị khác. Vì thế bài thơ lúc đầu có tựa đề "Nhớ Tây Tiến" về sau QD mới đổi thành "Tây Tiến".

  Bài thơ như những dòng ghi chú cuối cùng được làm tại Phù Lưu Chanh một làng ven bờ sông Đáy. Phải chăng vì thế mà nỗi nhớ Tây Tiến lại được bắt đầu bằng nỗi nhớ về một dòng sông với âm hưởng vô cùng tha thiết

 "Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!"

   Đó là âm hưởng ngân lên từ những chữ  "xa rồi" và chữ "ơi" đầy cảm xúc nhớ thương. Nhà thơ như để tiếng gọi yêu thương "Tây Tiến ơi" vọng về với một thời gian khổ nhưng nghĩa tình đầy những hy sinh nhưng cũng đầy những gắn bó vọng về một miền đất xa xôi vọng tới những người đồng đội của mình dù nằm lại nơi viễn xứ hay đang chiến đấu ở những chiến trường khác nhau. "Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!" thấm đượm biết bao nỗi nhớ niềm yêu thương của QDũng.

     Hình tượng con sông Mã mở đầu cho hoài niệm về Tây Tiến như một sự khẳng định âm hưởng hào hùng bi tráng của những "tháng năm Tây Tiến" đã không thể phai mờ trong tâm trí không chỉ mỗi người lính Tây Tiến mà của cả dân tộc của cả đất nước. Con sông Mã đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh cho vẻ đẹp của đoàn binh Tây Tiến. Và Quang Dũng đã để con sông Mã ấy xa dần xa dần nhưng vẫn chảy suốt bài thơ để khi thì hiện lên thành những con thác chiều chiều oai linh gầm thét khi lại thành dòng nước lũ với con thuyền độc mộc với "hoa đong đưa" và cuối cùng là hiện ra một cách đầy đủ trong khúc ca bi tráng của nó khi "Sông Mã gầm lên khúc độc hành". Và phải chăng con sông Mã ấy cũng chính là dòng sông cảm xúc mà QDũng đã từ nó thể hiện bao nhiêu tự hào cảm phục nhớ thương đối với những người đồng đội của mình.

    14 dòng thơ mở đầu là sự khắc tạc hình ảnh người lính Tây Tiến gắn liền với chặng đường hành quân gian khổ của họ. Vì thế thiên nhiên được mô tả cũng gắn liền với những chặng đường hành quân này. Thiên nhiên và con người như đan xen như hoà quyện lẫn nhau.  Dừng lại những chặng đường hành quân của người lính Tây Tiến 14 dòng thơ như những thước phim tư liệu nhưng lại đầy giá trị nghệ thuật về cuộc sống cuộc chiến đấu của người lính Tây Tiến.

Thiên nhiên HÙNG VĨ + THƠ MỘNG

     Trước hết phải thấy Quang Dũng đã tạo nên trong Tây Tiến một thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa bí hiểm vừa thơ mộng vừa khắc nghiệt như một cái nền làm nổi bật hình tượng người lính.

Cho nên sau câu thơ như một tiếng gọi tha thiết "Sông Mã xa rồi TT ơi !" là hình ảnh của một vùng rừng núi bao la như chao nghiêng trong ống kính của người nghệ sĩ quay phim như chơi vơi trong nỗi nhớ của QDũng. "Nỗi nhớ chơi vơi" là một sáng tạo độc đáo của nhà thơ bởi chơi vơi thường mang ý nghĩa chỉ không gian. Không gian tồn tại của sự vật đi vào nỗi nhớ của Quang Dũng "chơi vơi" trở thành không gian của tâm tưởng của cảm xúc. Từ bức tranh toàn cảnh "chơi vơi" một nỗi nhớ này hoài niệm như ống kính quay phim làm hiện lên những chặng đường đã qua của đoàn binh Tây Tiến với những địa danh không phải không có sự lựa chọn một cách kỳ công gợi biết bao cảm giác về sự xa xôi hiểm trở như Sài Khao Mường Lát Pha Luông Mường Hịch Mai Châu...Những địa danh với người đọc thuở ấy còn đầy bí hiểm hoang sơ thậm chí nó từng khiến Vũ Quần Phương cho rằng 2 chữ "Mường Hịch" nghe như bước chân cọp dậm dịch rình người còn 2 chữ "Mai Châu" tự nó đã ủ sẵn hương thơm của nếp rừng. Mới biết sức gợi tả của các địa danh thôi cũng đã có thể làm lay động trí tưởng tượng của người đọc.

     Bức tranh thiên nhiên trong Tây Tiến của QDũng còn vô cùng đặc sắc bởi nó được tạo nên từ một thứ ngôn ngữ rất giàu tính tạo hình. Mô tả thiên nhiên mà ta như thấy những bước chân quả cảm của đoàn binh Tây Tiến đang đạp bằng mọi gian khổ mà thiên nhiên thử thách mọi hiểm trở mà thiên nhiên đe doạ. Ta không chỉ thấy một Sài Khao sương lấp một Mường Lát hoa về trong đêm hơi mà còn thấy cả những chặng đường khúc khuỷu cheo leo

"Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm - Heo hút cồn mây súng ngửi trời - Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống - Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi "

    Đó là hình ảnh trập trùng dốc đứng đèo cao như dựng lên trước mắt đoàn binh Tây Tiến. Những thanh trắc tiếp nối nhau tạo cảm giác về sự gập gềnh khúc khuỷu. Điệp từ "dốc" như mở ra trước mắt người đọc hình ảnh những con dốc tiếp nối nhau lên tới người. Nhịp của câu thơ càng làm tăng thêm nỗi vất vả của người lính bởi nó như tiếng thở hối hả giục giã gấp gáp. Đó là nhịp điệu:

Dốc lên / khúc khuỷu / dốc / thăm thẳm

  Đó là một nhịp điệu ít thấy trong câu thơ 7 chữ cổ điển: 2/2/1/2. Hơn nữa nhà thơ còn sử dụng liên tiếp những từ láy gợi hình những từ láy mà tự nó đã có giá trị biểu hiện như "khúc khuỷu" "thăm thẳm" tiếp đó là "heo hút".

    Tuy nhiên cần phải thấy thơ QDũng có một đặc điểm rất nổi bật bao trùm đó là những hình ảnh tương phản có giá trị nâng đỡ lẫn nhau về mặt cảm xúc. Cho nên những "dốc lên" "khúc khuỷu" "thăm thẳm" "heo hút" đã trở thành vô nghĩa trong sự thử thách của thiên nhiên đối với con người. Vì sau tất cả những thử thách ấy ta bỗng bắt gặp một cảm xúc đầy kiêu hãnh của người lính. Người lính đã bất chấp mọi thử thách để vươn tới một tầm cao lồng lộng giữa đỉnh trời. QDũng đã tạo nên một hình ảnh hết sức bất ngờ từ sự tương phản này hình ảnh "súng ngửi trời". Từ hình ảnh ấy người lính hiện ra rất thực thực với những người lính xuất thân từ học sinh sinh viên trí thức HNội. Đó là hình ảnh được hiện ra từ cái nhìn của những người lính trẻ thông minh mà tinh nghịch những người lính đã vượt qua muôn trùng dốc để vươn tới tận trời để súng ngửi trời. Không phải là những người lính như người lính trong đoàn binh Tây Tiến khó có thể liên tưởng từ "mũi súng" đến "súng ngửi trời"

   Thời đại đã đem đến cho QDũng không chỉ một liên tưởng lạ lùng kỳ thú mà còn là hình tượng thơ hết sức kỳ vĩ. Khẩu súng cùng với người lính như đang đứng ở đỉnh cao của thời đại gợi ta nhớ tới hình ảnh ngươì chiến sĩ vệ quốc trong câu thơ của Phạm Ngũ Lão:

"Hoành sóc giang san cáp kỉ thu"

   Hình tượng người anh hùng vệ quốc cầm ngang ngọn giáo đứng giữa non sông hoặc người lính trong câu thơ của Tố Hữu.

"Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều - Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo - Núi không đè nổi vai vươn tới - Lá nguỵ trang reo với gió đèo" ( Lên Tây Bắc )

    Song ở câu thơ của QDũng người lính thật hồn nhiên và lãng mạn vừa thật vừa khái quát vừa giàu ý nghĩa tượng trưng.

   Thiên nhiên có lúc vụt hiện ra từ những câu thơ giàu giá trị tượng hình một đỉnh cao nghìn thước. Đó là câu thơ:

"Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống"

     Không ít người yêu thích câu thơ này bởi sự ngắt nhịp giữa dòng đã bẻ gập câu thơ tạo nên cái đỉnh cao nghìn thước kia. Nhưng thực ra cái độ cao nghìn thước ấy được tạo nên từ chính cấu trúc ngữ nghĩa của câu thơ. Nhà thơ đã tạo nên cái tương phản giữa nghìn thước lên và nghìn thước xuống để đúng giữa câu thơ là cái ngất trời của một chữ "cao". Chính cấu trúc ngữ nghĩa ấy đã tạo nên đỉnh cao nghìn thước giữa câu thơ. Chẳng những thế câu thơ với chữ "lên" "xuống" còn gợi ra hình ảnh trập trùng của đoàn binh Tây Tiến đang vượt dốc cao vực thẳm.

Mô tả thiên nhiên QDũng chỉ nhấn mạnh sự dữ dội hiểm trở của nó mà còn gợi ra hình ảnh hết sức thơ mộng. Bên cạnh cái hiểm trở của đỉnh cao nghìn thước của con thác gầm thét của Mường Hịch cọp trêu người còn có khung cảnh của Lũng Sa

"Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi"

Một câu thơ toàn thanh bằng gợi nên cái mênh mông xa vời chơi vơi. Sự tương phản về thanh điệu tự nó cũng đã gợi ra cái trập trùng của núi non nhưng đặc sắc hơn còn là chất lãng mạn gợi ra từ một khung cảnh thiên nhiên như vậy. Phải là người lính đầy chất thơ trong tâm hồn mới có thể cảm nhận được vẻ đẹp ấy sau khi đã vượt dốc qua cồn mây đạp bằng đỉnh cao nghìn thước.

   Nói đến thiên nhiên trong Tây Tiến không thể không nói tới một thiên nhiên hùng vĩ như một cái nền làm nổi bật tầm vóc của con ngươì ở những câu thơ này. Quang Dũng đã mô tả thiên nhiên để mô tả con người. Quang Dũng đã mô tả thiên nhiên bằng cả hình cả âm cả nhịp điệu và đặc biệt là bằng cảm hứng lãng mạn để sự hiểm trở của thiên nhiên chỉ càng khơi gợi cảm hứng chinh phục của con người.

   Đó là cảm hứng không phải không có sự ảnh hưởng của thơ ca lãng mạn như "Nhớ rừng" của Thế Lữ sự ảnh hưởng từ câu thơ

"Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng - Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt"

Đến câu thơ:

"Chiều chiều oai linh thác gầm thét"

    Cảm hứng lãng mạn ở Tây Tiến còn là sự ảnh hưởng từ hồn thơ lãng mạn của Lý Bạch bởi những câu thơ "Dốc lên ... ngửi trời" đã gợi ta nhớ đến "Thục Đạo Nan" của Lý Bạch

"Thục đạo nan thục đạo chi nan - Nan ư thướng thanh thiên"

Đọc câu thơ:

"Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người"

Ta lại nhớ đến "Thục đạo nan" với câu thơ:

"Triêu tỵ trường xà - Tịch tỵ mãnh hổ"

   Con đường Tây Tiến có khác gì con đường vào "Thục" xưa trong câu thơ của Lý Bạch. Chính QDũng cũng nói về sự ảnh hưởng này trong các câu thơ của ông.

     Với 14 dòng thơ mở đầu tuy hình ảnh người lính chỉ thấp thoáng ẩn hiện giữa thiên nhiên qua ống kính quay cận cảnh của QDũng nhưng đoạn thơ vẫn khắc hoạ những vẻ đẹp hết sức đặc sắc từ ý chí nghị lực đến khí phách tâm hồn của đoàn binh Tây Tiến. Hình tượng người lính ở đây cũng mang màu sắc được hoà trộn từ cảm hứng hiện thực cho đến cảm hứng lãng mạn một sự hoà trộn mang tính đặc trưng của thơ QDũng. Hiện thực và lãng mạn luôn nâng đỡ lẫn nhau trong các câu thơ trong từng hình ảnh.

     Đó là hình ảnh người lính hiện ra như một đoàn quân mỏi nhưng cũng lại là người lính tâm hồn tràn đầy chất thơ nên giữa bao nhiêu mỏi mệt vẫn cảm nhận được vẻ đẹp của núi rừng vẻ đẹp của một "Mường Lát hoa về trong đêm hơi". Người lính như thả hồn vào cõi mộng của đêm hơi giữa núi rừng tận hưởng hương thơm của hoa rừng. Nếu cảm nhận câu thơ " Mường Lát hoa về trong đêm hơi" như một sự cách điệu hình ảnh đoàn binh Tây Tiến với những bó đuốc trên tay hành quân qua Mường Lát như một ai đó đã nói thì sẽ không thể hiểu được ý tưởng của nhà thơ muốn làm nổi bật cái tinh tế cái thi vị- chất thơ như một vẻ đẹp trong tam hồn người lính.

Đó còn là hình ảnh những người lính vượt muôn trùng dốc với bao nhiêu vất vả bởi những "khúc khuỷu" "thăm thẳm" "heo hút" nhưng đột nhiên lại xuất hiện ở tầm cao đỉnh trời trong tiếng cười lạc quan với chi tiết "súng ngửi trời". Ta như nghe thấy tiếng cười rũ sạch mọi mệt nhọc gian nan rũ sạch cả bụi trường chinh trên tấm áo người chiến sĩ. Quả thực như đã nói cho đến "Tây Tiến" chưa ở đâu trong văn học nước ta người lính vệ quốc anh bộ đội cụ Hồ được đặt ở một tầm cao như vậy. Đó là hình ảnh người lính vượt những đỉnh cao nghìn thước không chỉ là đỉnh cao của thiên nhiên mà còn là đỉnh cao của những khó khăn thử thách nhưng tâm hồn vẫn thảnh thơi vẫn mơ mộng khi để lòng trải ra mênh mông giữa khung cảnh

"Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi"

   Đó còn là hình ảnh về sự hy sinh lặng lẽ mà rất anh hùng của những người lính Tây Tiến dọc theo chặng đường hành quân. Thương nhớ vô cùng trong 2 chữ "anh bạn" mà nhà thơ đã nói về đồng đội của mình bởi đó là những người bạn đã nằm lại dọc đường hành quân. Nhưng QDũng không biến nỗi đau ấy thành sự bi luỵ khi nhà thơ viết về sự hy sinh của những người bạn như viết về giấc ngủ của họ. "Anh bạn dãi dầu không bước nữa - Gục lên súng mũ bỏ quên đời" nhưng tinh thần của họ lại vút lên cùng sông núi . Họ coi cái chết nhẹ nhàng như đi vào giấc ngủ nhưng sông núi lại để niềm nhớ thương và kiêu hãnh hoá thân thành những ngọn thác để chiều chiều oai linh gầm thét vừa thể hiện nỗi đau xé lòng lại vừa thể hiện khúc tráng ca muôn đời của sông núi hát về sự hy sinh của họ.

     Thủ pháp tương phản được sử dụng một cách triệt để để làm vút lên vẻ đẹp tâm hồn hết sức hào hoa của người lính để dựng lên hình ảnh những người lính dẫu sống giữa một vùng đất hoang sơ đầy bí hiểm nơi cọp còn trêu người nhưng tâm hồn họ vẫn ngời lên một vẻ đẹp phong nhã hào hoa trong câu thơ:

"Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi "

    Bao nhiêu lãng mạn gửi vào những chữ "nhớ ôi Tây Tiến..." "Mai Châu mùa em ...". Đó là những chữ đã để lại trong tâm hồn người lính những vẻ đẹp của miền núi hoang sơ kia vẻ đẹp mang đậm tình người với "cơm lên khói" và "mùa em thơm nếp xôi". Lòng người Tây Tiến nhớ mãi "mùa em" mùa những người lính Tây Tiến gặp em giữa khung cảnh hạnh phúc của xóm làng. Hương nếp xôi cũng từ mùa em mà thơm mãi trong tâm hồn người lính.

KẾT BÀI

    Dẫu 14 dòng thơ mở đầu chủ yếu là khắc tạc bức tranh thiên nhiên vô cùng hoang sơ hiểm trở thì cũng phải thấy QDũng muốn từ thiên nhiên ấy mà làm nổi bật hình ảnh những ngươì lính Tây Tiến với tầm vóc lớn lao với ý chí kiên cường với tâm hồn phơi phới niềm tin niềm lạc quan đã tạo nên sức mạnh đạp bằng mọi gian khổ hy sinh để đi tới. Đây là câu thơ có sức tạo hình hết sức độc đáo. Cảm hứng lãng mạn đã làm cho hình tượng người lính trở nên rực rỡ. Hình tượng nghệ thuật vừa bám sát hiện thực lại có sự bay bổng trong sức tưởng tượng của người đọc bởi chất lãng mạn ấy của hồn thơ QDũng.

More.....