Bài đọc thêm có thi hay không?

Nov 10 2008 19:10:10


BÀI ĐỌC THÊM CÓ THI HAY KHÔNG?


Bài đọc thêm có thi hay không ? Đến giờ phút này chưa có câu trả lời chính thức! Có thể TN thì không thi nhưng ĐH thì rất có khả năng. Vì vậy tốt hơn hết là các em hãy học cho đều nhé.
CHÚC CHO CÁC EM KHẮP MỌI MIỀN ĐẤT NƯỚC HỌC THẬT TỐT VÀ THI ĐẠT ĐIỂM CAO. THẦY RẤT VUI VÌ CÁC BẠN QUAN TÂM TỚI TRANG NÀY.

THẦY PHAN DANH HIẾU

CÁC EM NHỚ TÌM ĐỌC BÁO ÁO TRẮNG SỐ RA NGÀY 15.11 CÓ TRUYỆN NGẮN CỦA THẦY ĐƯỢC ĐĂNG.

More.....

BÀI VĂN ĐƯỢC ĐIỂM 10 KÌ THI ĐH 2005

Oct 28 2008 22:38:42



BÀI VĂN ĐẠT ĐIỂM 10


Ngoài điểm 10 môn Văn của thí sinh Nguyễn Thị Thu Trang còn một thí sinh khác được điểm 10 Văn nữa - đó là Nguyễn Thị Tâm quê Thủy Nguyên Hải Phòng. Khác với Thu Trang thi khối D Tâm thi khối C vào Học viện Cảnh sát nhân dân. Chúng tôi trích đăng một phần bài thi của Nguyễn Thị Tâm để bạn đọc tham khảo.

* Câu 2 (5 điểm): Phân tích hai trích đoạn thơ:

Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

(Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm Văn học 12 tập 1 NXB Giáo dục tái bản 2004 tr.79)

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất nước mình núi Bút non Nghiên
Con cóc con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc ông Trang Bà Đen Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình một ao ước một lối sống ông cha

(Đất nước trích chương V trường ca Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm
Văn học 12 tập 1 NXB Giáo dục tái bản 2004 tr.249-250)

Bài làm: Chưa bao giờ trong dòng chảy của Văn học Việt Nam lại xuất hiện nhiều gương mặt thơ với những phát hiện độc đáo và xúc động viết về quê hương mình đã gắn bó trọn đời trọn kiếp vậy mà chỉ viết trong một đêm. Thế nên tất cả những hình ảnh những cảm xúc trong bài thơ đều là những hồi ức nóng bỏng vừa là cháy đỏ yêu thương thắm nồng tình cảm vừa là ngùn ngụt chí căm thù quân xâm lược.

Đoạn trích:

"Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp"

Đây là đoạn thơ mở đầu phần hai của bài thơ. Sau khi bộc lộ nỗi niềm nhớ tiếc về một dòng sông Đuống êm đềm thanh bình nay đã trở thành quá khứ thành nỗi xót xa đến "rụng bàn tay" nhà thơ tiếp tục hồi tưởng về quê hương với những giá trị truyền thống.

Mở đầu đoạn trích Bên kia sông Đuống vang lên như một lời giới thiệu. Nơi ấy là nơi nào? Đây chính là thôn Lạc Thổ - xã Song Hồ - huyện Thuận Thành - tỉnh Bắc Ninh nơi bờ nam sông Đuống của nhà thơ đang bị giặc chiếm đóng. Nơi ấy là nơi lưu giữ những hồi ức những kỷ niệm tuổi thơ êm đềm của tác giả giờ đây đã trở thành máu thịt của tâm hồn trở thành một mảng ký ức của nỗi đau. Câu thơ ngắn gọn chỉ có bốn từ vang lên như một tiếng gọi gọi lòng thi sĩ trở về với quê hương đồng thời cũng như một tiếng lòng của thi sĩ trở thành một nỗi đau day dứt ám ảnh. Thế nên điệp khúc Bên kia sông Đuống cứ lặp đi lặp lại trong suốt bài thơ.

Sau lời giới thiệu ấy một quê hương Kinh Bắc đã hiện ra với một truyền thống văn vật:

"Quê hương ta lúa nếp thơm nồng"

Bức tranh quê hương hiện lên với phong cảnh đồng ruộng bát ngát hương thơm bay thoang thoảng của lúa nếp. Đọc đến đây ta thấy quê hương của Hoàng Cầm có gì đó thật gần gũi với mọi làng quê Việt Nam. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã từng thốt lên:

"Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn"
(Bài thơ Hắc Hải)

Nói về quê hương tác giả tràn ngập một niềm vui sướng tự hào. Cụm từ "quê hương ta" đứng ngay đầu câu thơ gợi ra một niềm tự hào kiêu hãnh về quê hương của tác giả. Một quê hương tươi đẹp và trù phú ấm no và yên bình. Hình ảnh "lúa nếp thơm nồng" không chỉ gợi ra một khung cảnh quê hương giàu đẹp ấm no mùa màng tốt tươi mà còn gợi lên truyền thống của quê hương.

Đó chắc hẳn là một làng quê giàu truyền thống hội hè đình đám những lễ hội. Một Kinh Bắc cổ kính lâu đời. Không chỉ có vậy hình ảnh lúa nếp thơm nồng còn làm cho ta nhớ tới những sự tích "bánh chưng bánh dày" ta liên tưởng đến những con người hiếu nghĩa hiếu thảo. Có thể cái "nồng" ấy còn là cái nồng của cảm xúc của tình cảm tác giả.

Quê hương Kinh Bắc đâu chỉ có ấm no trù phú ở đó còn có truyền thống văn hóa lâu đời. Đó chính là tranh Đông Hồ một nét văn hóa dân gian nổi tiếng của quê hương Kinh Bắc.

"Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong"

Quê hương Hoàng Cầm là ở thôn Lạc Thổ xã Song Hồ - một làng nghề làm tranh dân gian lâu đời. Người Kinh Bắc thuở xưa thường làm tranh để gửi vào đó những ước mơ khát vọng của mình về một cuộc sống ấm no. Câu thơ trên giới thiệu những bức tranh quê hương với nét vẽ "gà lợn". Đó là cuộc sống của người dân những con vật gần gũi với cuộc sống của người dân. Tất cả đều được đưa vào tranh trở thành nét văn hóa truyền thống của dân tộc.

Ta còn nhớ đến những bức tranh như Hứng dừa Đám cưới chuột Đánh ghen... Nhưng có lẽ Hoàng Cầm nói về tranh Đông Hồ là để khen cái tài của người làm tranh. Những con người Kinh Bắc tài hoa chất phác bình dị và rất vui tính nữa. Họ đều là những con người dễ thương dễ mến và hiếu khách. Bức tranh Đông Hồ hiện lên với nét vẽ "nét tươi trong" và được tác giả đánh giá là màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp".

Người Đông Hồ vẽ tranh bằng những màu lấy từ tự nhiên như màu đỏ của cánh hoa lựu màu hồng của hoa sen màu vàng của nghệ... tất cả đều là những màu nguyên đều gợi lên nét tươi trong. Nhưng liệu có quá to tát khi tác giả nói là "màu dân tộc sáng bừng" không chắc chắn là không bởi đó là "màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp".

Giấy điệp" là một loại giấy mà có lẽ chỉ có người làm tranh Đông Hồ mời có bí quyết để tạo ra một loại giấy mỏng nhưng rất bền và chắc. Câu thơ tràn ngập niềm tự hào của tác giả khi nhớ về quê hương. Cái "sáng bừng" ấy là cái sáng bừng của cảm xúc của lòng tự hào kiêu hãnh. Một quê hương giàu đẹp như thế làm sao không khỏi tự hào kiêu hãnh cơ chứ và cũng làm sao không khỏi đau đớn xót xa khi mất đi quê hương ấy cơ chứ.

Nhưng khác với Hoàng Cầm Nguyễn Khoa Điềm lại khám phá đất nước ở một khía cạnh khác. Đó chính là tư tưởng đất nước của nhân dân do nhân dân làm ra. Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Trường ca Mặt đường khát vọng của ông được viết trong những ngày tháng nóng bỏng của chiến trường Bình - Trị - Thiên đó là sự thức tỉnh của thế hệ trẻ về vai trò của nhân dân về trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay đối với cuộc kháng chiến của dân tộc.

Nguyễn Khoa Điềm đã thấm nhuần đất nước là máu xương của mình đã "gắn bó và san sẻ" đã "đi trả thù mà chẳng sợ dài lâu". Cho nên ta có thể thấy tư tưởng thấu suốt trong chương thứ năm của trường ca "Mặt đương khát vọng" là đất nước của nhân dân do nhân dân. Tư tưởng này được thể hiện rõ trong đoạn trích:

"Những người vợ nhớ chồng còn góp cho đất nước những núi Vọng Phu"
... Chẳng mang một dáng hình một lối sống ông cha"

Đó là sự cảm nhận đất nước về phương diện địa lý. Tất cả những dáng núi hình sông trên đất nước ta đều do nhân dân làm ra. Tác giả đã thể hiện tư tưởng này qua một động từ đó là "góp". Mọi người đều góp phần xây dựng đất nước. Chủ thể của động từ ấy là những người vợ nhớ chồng cặp vợ chồng yêu nhau gót ngựa Thánh Gióng người học trò nghèo và cả những người dân bình thường... Họ đều là những con người hiếu nghĩa thủy chung cũng giàu truyền thống hiếu học và cũng kiên cường anh dũng lắm thay: những núi Vọng Phu đất Tổ Hùng Vương núi Bút non Nghiên ông Đốc bà Điểm...

Dường như bàn chân nhân dân đi đâu bàn tay nhân dân xây đắp những gì nhân dân đều hà hơi thổi linh hồn mình vào đấy. Thế nên đất nước chứa đựng linh hồn của nhân dân chính là tâm hồn nhân dân đó. Tác giả còn khắc sâu tư tưởng đất nước của nhân dân khi diễn tả những thứ nhân dân làm ra: đều có núi Bút núi Vọng Phu có Non Nghiên có dòng sông ao đầm nơi nào cung có bàn tay nhân dân xây đắp. Và từ đó nhà thơ đi đến một khái quát.

"Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình một ao ước một lối sống ông cha"

Câu thơ đã khái quát khẳng định một điều rằng tất cả khắp mọi nơi trên đất nước đều do nhân dân làm và thổi linh hồn mình vào đấy.

Vì vậy mà trong đất nước đã in bóng hình của nhân dân và trong nhân dân có bóng hình đất nước.

Đất nước và nhân dân hòa vào nhau tạo nên một đất nước vừa thực vừa linh thiêng. Một đất nước vừa địa linh và nhân kiệt. Đây là một tư tưởng rất mới mẻ khẳng định vai trò của nhân dân với đất nước. Biết bao thế hệ người dân ta từ già trẻ trai gái đều đã ngã xuống máu của họ tạo thành sông suối xương của họ tạo lên dáng núi và tâm hồn của họ thành hồn sông núi hồn xứ sở. Họ là người làm ra đất nước.

Qua hai đoạn thơ trên ta thấy cả Hoàng Cầm và Nguyễn Khoa Điềm đều rất tinh tế tài hoa và sâu sắc trong việc khám phá những điều kỳ diệu về đất nước. Thế nhưng nhà thơ đều có những sự khám phá thú vị của mình đều tìm ra những nét khác nhau về đất nước muôn màu và thăng hoa thành những cảm xúc những vần thơ tuyệt đẹp.

Hoàng Cầm khám phá đất nước trong nỗi nhớ thương tiếc xót. Khi mà đau đớn đến quá đột ngột lại cộng với tâm hồn tài hoa và nhạy cảm đã tạo nên những câu thơ về đất nước đầy cảm xúc.

Khác với Hoàng Cầm Nguyễn Khoa Điềm với tư tưởng đất nước của nhân dân đã phải trải qua một quá trình chiêm nghiệrn thực tế mới rút ra được. Nhưng cả hai nhà thơ đều chung nhau là tìm về những giá trị truyền thống của quê hương đất nước những nét văn hóa của làng quê phong cảnh đất nước và cả hai thi sĩ đều có chung một cảm xúc đầy tự hào và yêu thương.

Đề tài về đất nước luôn luôn là một cảm hứng cho mọi nền văn học nhất là nền văn học của một dân tộc mà tình yêu nước luôn luôn bị đem ra thử thách. Thành công về đề tài này đã nhiều nhưng Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm và Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm vẫn có một tiếng nói riêng một sự khám phá riêng với một phong cách riêng. Hai mặt đất nước của nhân dân và đất nước giàu truyền thống góp vào vườn thơ về đất nước như hai bông hoa đẹp nhất tỏa hương thơm đến muôn đời muôn thế hệ.

* Câu 3: Nhận định về Nam Cao sách Văn học 11 viết: "Ông có sở trường diễn tả phân tích tâm lý con người". (Văn học 11 tập một NXB Giáo dục tái bản 2004 trang 201). Qua nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa anh/chị hãy chứng minh nhận định trên.

Bài làm: Nhà văn Nam Cao (1915 - 1951) là cây bút hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam trước cách mạng và cũng là nhà văn có nhiều đóng góp cho nền văn học non trẻ những ngày đầu.

Trước cách mạng do bên cạnh việc viết về bi kịch của người nông dân với tác phẩm bất hủ "Chí Phèo" người đọc còn nhớ mãi bi kịch của người trí thức tiểu tư sản trước cách mạng trong tác phẩm "Đời thừa" mà được thể hiện rõ qua nhân vật Hộ. Nhà văn Nam Cao với tài năng xuất chúng và một tấm lòng yêu thương nhân ái bao la đã thể hiện rõ được tâm lý của người trí thức tiểu tư sản trong cảnh ngộ bi kịch ấy. Chính vì vậy nhận định về Nam Cao sách Văn học 11 viết "Ông có sở trường về diễn tả phân tích tâm lý con người".

Truyện ngắn "Đời thừa" ra mắt bạn đọc lần đầu tiên trong "Trang tiểu thuyết số 7" số ra ngày 4-3-1943. Tác phẩm cùng đề tài này có "Mực mài nước mắt" của Lan Khai "Nợ văn" của Lãng Tử "Đời thừa" còn gần gũi về đề tài với một số tác phẩm của Nam Cao như "Trăng sáng" "Nước mắt" và tiểu thuyết "Sống mòn". Qua tác phẩm Nam Cao đã miêu tả thành công tâm trạng của một người trí thức tiểu tư sản trước cách mạng.

Hộ vốn là một nhà văn một nhà văn mang trong mình hoài bão lớn ấy là viết được một tác phẩm "vượt qua mọi giới hạn và bờ cõi" ai đó vội cho đó là sự háo danh. Nhưng không phải vậy. Đó là ước mơ của một con người có lý tưởng có hoài bão lớn muốn khẳng định được tài năng của mình. Hộ còn là một nhà văn chân chính.

Điều này được thể hiện qua một loạt quan niệm của anh về văn chương "văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có" với ý nghĩ ấy Hộ đã vô cùng căm ghét sự cẩu thả trong văn chương "cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện". Như vậy qua những quan niệm của Hộ về văn chương ta thấy đây là một nhà văn có hoài bão một nhà văn chân chính có lương tri của một người cầm bút chân chính ý thức được trách nhiệm của người nghệ sĩ.

Thế nhưng trước khi là một nhà văn Hộ còn là một người chồng một người cha hắn còn có một gánh nặng gia đình trên vai. Cuộc sống với một gia đình đông con một người vợ thất nghiệp đã cướp đi ở hắn sự thanh thản sự thanh thản cần thiết để một tâm hồn văn chương thăng hoa khi mà cứ hết tháng lại "tiền nhà tiền gạo tiền nước mắm".

Hoài bão văn chương có thể nung nấu trong chốc lát nhưng chuyện cơm áo là chuyện phải đối mặt hàng ngày. Chả thế mà Xuân Diệu đã từng thốt lên:

"Nỗi đời cay đắng giơ nanh vuốt
Cơm áo không đùa với khách thơ"

Thế là Hộ điên lên phải xoay tiền. Nam Cao đã thật tỉ mỉ khi miêu tả tâm trạng của Hộ trong cảnh túng quẫn ấy "đang ngồi hắn đứng phắt dậy mặt hầm hầm đi ra phố vừa đi vừa nuốt nghẹn". Chỉ một đoạn văn ngắn mà ông đã tái hiện lại tâm trạng của Hộ: thật bức bách. Nanh vuốt của họa cơm áo đang có nguy cơ nuốt chửng nhà văn Hộ đầy tâm huyết ngày nào.

Và thế là để có tiền thì Hộ phải viết. Nam Cao là một nhà văn hiện thực nên ông biết rằng Hộ muốn có tiền thì phải viết viết những tác phẩm đáp ứng được nhu cầu của một đám thị dân lúc bấy giờ "những tác phẩm làm người ta quên ngay sau lúc đọc". Hộ phải viết những tác phẩm ấy nhưng giả dụ có ai bảo hắn viết những tác phẩm cao quý hắn cũng chẳng biết đường nào mà viết bởi tâm trạng bức bách ở trên. Thế rồi Hộ bị văng vào quỹ đạo của bi kịch.

Hắn thấy xấu hổ khi đọc những tác phẩm ấy "hắn đỏ mặt lên". Đó là sự xấu hổ của một chút lương tri ít nhiều chưa vỡ nát trong Hộ. Hộ đau đớn tủi cực không phải vì không được viết mà là anh đã tự giẫm lên những nguyên tắc do mình đặt ra còn gì đau đớn hơn khi mình lại phản bội chính mình. Nam Cao tỏ ra rất tinh tế và cảm thông trước tâm trạng của Hộ. Phải hiểu phải cảm thông thế nào thì ông mới có thể viết lên những trang văn đầy giằng xé như vậy.

Thế là từ không thực hiện được giấc mộng văn chương và Hộ đã trở thành kẻ phản bội chính mình. Nhưng Nam Cao không dừng lại ở đó ông muốn người đọc đi đến tận cùng sự khổ cực bi kịch của người trí thức. Hộ lại bị đẩy ra khơi - trước từng cơn sóng dữ của cuộc đời. Nó đã quăng anh vào bi kịch nghề nghiệp nó lại quật anh vào một bi kịch khác bi kịch không thực hiện được tình người cho trọn.

Mọi chuyện bắt đầu từ lúc hắn lấy Từ. Lấy Từ hắn đã thực hiện được nguyên tắc tình thương của mình đã cứu được ba con người. Nhưng rồi từ đó bi kịch đã mở ra với hắn. Gánh nặng gia đình đã đè nặng lên vai khiến hắn thấy mình khổ đáng trách hơn là hắn coi Từ là nguyên nhân khiến mình khổ. Từ đó hắn đã tìm đến rượu có lúc hắn toan ruồng bỏ vợ con.

Khi say hắn đã có những hành động vũ phu quá đáng "hắn chỉ tay vào mặt Từ" đuổi mấy mẹ con Từ ra ngoài. Nam Cao đã có một lời biện hộ yếu ớt ấy là cho hắn hành động trong lúc say. Nhưng tất cả đều đổ nhào trước nguyên tắc: nguyên tắc tình thương. Hộ thật đáng trách khi coi vợ con là nguyên nhân làm mình khổ. Thế là mọi nguyên tắc tình thương mà hắn đặt ra trước đây "kẻ mạnh là kẻ giúp đỡ người khác trên đôi vai mình" đã bị hắn đạp đổ.

Giờ đây đâu còn là một nhà văn Hộ giàu tâm huyết giàu lòng nhân đạo nữa mà là một con người vũ phu quá đáng. Hộ thật đáng trách nhưng có lẽ đáng thương hơn là đáng trách. Thế nhưng Nam Cao đã để cho nhân vật của mình dừng lại trên con đường bị tha hóa ấy. Sau mỗi lần say Hộ lại tỉnh và nhận rõ được sai lầm của mình xin lỗi và làm lành với vợ con.

Phải là một người đầy tài năng già tay nghệ thuật và vững tin vào con người thì Nam Cao mới có thể đặt nhân vật vào lốc xoáy cuộc đời nhưng cuối cùng tình người vẫn chiến thắng. Hộ đã khóc "Anh chỉ là một thằng khốn nạn". Giọt nước mắt ăn năn hối lỗi. Câu chuyện về cuộc đời Hộ đã khép lại bằng câu hát ru đẫm nước mắt của Từ:

"Ai làm cho khói lên giời
Cho mưa xuống đất cho người biệt li"

Như vậy qua tấn bi kịch của nhà văn Hộ Nam Cao đã khắc họa một cách chân thực và sâu sắc bi kịch của người trí thức tiểu tư sản trước cách mạng. Đồng thời lên án xã hội bất công không cho con người phát triển toàn diện về tài năng và nhân cách. Qua đây ta cũng thấy được tài năng nghệ thuật về diễn tả và phân tích tâm lý bậc thầy của nhà văn Nam Cao. Nhưng dù cuộc đời có cay nghiệt lốc xoáy có dữ dội thì nhân vật của ông vẫn hướng về chân trời của cái chân thiện mĩ.

Theo Tiền Phong Gia đình & xã hội

More.....

THÔNG TIN VỀ NÚI BÀ ĐEN

Oct 28 2008 22:07:14



NÚI BÀ ĐEN (TÂY NINH)


TRONG BÀI THƠ ĐẤT NƯỚC CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM CÓ CÂU " Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc Ông Trang Bà Đen Bà Điểm" CÓ NHIỀU BẠN THẮC MẮC KHÔNG RÕ ĐÂY LÀ NHỮNG CON NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO. VẬY XIN TRÍCH MỘT TƯ LIỆU NÓI VỀ BÀ ĐEN.

   Nơi tỉnh Tây Ninh có một ngọn núi cao nhất miền Nam VN được gọi là núi Ðiện Bà tục gọi là núi Bà Ðen vì trên núi có lập một cái Ðiện để thờ Bà Ðen. Bà Ðen rất linh hiển nên được vua Gia Long truyền cho đúc cốt Bà bằng đồng đen và sắc phong là Linh Sơn Thánh Mẫu
SỰ TÍCH BÀ ÐEN:
Có hai truyền thuyết về sự tích Bà Ðen:
- Bà Đen là nàng Đênh người Cao Miên
- Bà Đen là lý thị Thiên Hương Người Việt Nam

1: Bà Đen là nàng Đênh
" Tương truyền rằng khi xưa thuở còn là phần đất của Cao Miên tại vùng rừng núi Tây Ninh có một viên quan trấn thủ người Miên sinh hạ được hai con: một trai tuấn tú và một gái hiền thục tục gọi là nàng Ðênh.

Lúc nàng Ðênh 13 tuổi có ông sư người Tàu tên là Trung Văn Danh từ Bến Cát (Thủ Dầu Một) đến vùng núi Tây Ninh tìm chùa làm nơi hoằng dương Phật pháp. Khi đến nhà quan trấn sư ông thăm hỏi việc truyền bá đạo Phật trong vùng và dò la kiếm nơi cất chùa hành đạo. Quan trấn thủ mời nhà sư tạm nghỉ nơi nhà mình để ông thừa dịp học đạo.

Sư ông vui vẻ nhận lời và từ đó bắt đầu truyền bá Phật pháp trong gia đình quan trấn và cơ vệ đội.

Tuy tuổi trẻ nhưng sớm nhuộm màu thiền nàng Ðênh miệt mài nghe sư ông giảng đạo. Quan trấn cũng mộ đạo nên thiết lập cho sư ông một cảnh chùa nay còn di tích là chùa Ông Tàu nằm về phía Ðông chân núi phía làng Phước Hội đi lên.

Thời gian thấm thoát trôi qua nghĩ lại đã mấy năm xa cách thiện nam tín nữ Bến Cát sư ông bèn tạm biệt quan trấn để trở về thăm cảnh cũ người xưa.

Từ ngày sư ông vắng mặt nàng Ðênh vẫn một lòng sùng kính Phật đạo luôn luôn lo việc hương khói trong chùa.

Vốn con nhà trâm anh lại tuổi tới tuần cập kê nên nhan sắc nàng Ðênh càng thêm xinh lịch tiếng đồn khắp nơi. Quan trấn địa phương vùng Trảng Bàng có dinh đặt tại Sông Ðua thuộc làng Lộc Hưng (nay còn di tích) mới cậy mai mối hỏi cưới nàng Ðênh cho con trai trưởng của ông. Thân sinh nàng Ðênh vui vẻ tán thành. Nhưng khi nói lại cho nàng Ðênh biết thì nàng rất bối rối chưa biết trả lời ra sao nàng xin cha mẹ đình đãi để kịp suy nghĩ. Qua nhiều đêm trằn trọc vì nàng Ðênh đã phát nguyện xuất gia tu hành không thể lấy chồng nàng quyết tâm lánh mặt. Một đêm khi cha mẹ ngủ yên nàng Ðênh lén ra đi tìm nơi thuận tiện để tiếp tục tu hành. Mọi việc vỡ lở ra quan trấn cho lính đi tìm nàng Ðênh khắp nơi kẻ băng rừng người lên núi mãi đến trưa quân lính tìm thấy trong kẹt đá một khúc chân của nàng Ðênh có lẽ nàng bị thú dữ bắt ăn thịt còn sót lại một khúc chân vội báo về cho quan trấn rõ.

Sau khi khóc than thương tiếc quan trấn cho mai táng khúc chân nàng Ðênh trên núi và rước thầy tụng kinh giải oan cho nàng. Dân địa phương cho rằng nàng Ðênh chết oan như thế ắt rất linh hiển nên từ đó khi gặp việc gì khó khăn thì khấn vái nàng Ðênh phò hộ thì thường được toại ý.

Việc nàng Ðênh hiển linh đồn xa nhân dân rất sùng kính nên gọi nàng là Bà Ðênh để tỏ ý tôn kính.

Thời gian trôi qua... Bao nhiêu năm sau lúc ấy Chúa Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đuổi theo rất gấp từ Gia Ðịnh Nguyễn Ánh theo đường sứ đi Tây Ninh định trốn qua Miên.

Lúc Nguyễn Ánh chạy đến Trảng Mang Chà vùng bùng binh hiện nay thì quân Tây Sơn cũng đuổi theo gần tới nhân dân cho biết trên núi có Bà rất linh ai cầu gì được nấy. Nguyễn Ánh liền sai quan Quản Cơ Lê văn Duyệt phi ngựa lên núi cầu Bà mách giùm cách thoát nạn và cho biết tương lai.

Trong đêm Nguyễn Ánh được Bà hiện ra trong giấc chiêm bao cho biết cứ theo đường sứ đến Tây Ninh vòng qua núi lên Võ môn Tam cấp rồi qua Xiêm cầu viện nghiệp cả sẽ nên còn việc ngăn đón quân Tây Sơn để Bà lo liệu giúp cho.

Sau khi Nguyễn Ánh dẹp được nhà Tây Sơn lên ngôi vua xưng là Gia Long Ngài nhớ ơn cũ cho đúc tượng Bà bằng đồng đen để thờ và sắc phong cho Bà là Linh Sơn Thánh Mẫu." (Viết theo sách Nếp Cũ Hội Hè Ðình Ðám của Toan Ánh)

Dân chúng truyền nhau sự tích của Bà Ðênh và vì kiêng úy nên gọi trại ra là Bà Ðen.
2.- Bà Ðen là Lý Thị Thiên Hương
Tại Trảng Bàng có cô gái tên Lý thị Thiên Hương con của ông Lý Thiên và Bà Ðặng Ngọc Phụng người gốc ở Bình Ðịnh vào Trảng Bàng lập nghiệp. Tuy Thiên Hương không đẹp nhưng rất có duyên và có tài năng khiến nhiều người để ý. Trong làng có chàng trai Lê Sĩ Triệt mồ côi cha mẹ được nhà sư Trí Tân nuôi dưỡng từ nhỏ nên có được văn hay võ giỏi.

Lúc đó con trai của Hà Ðảnh quan Huyện Trảng Bàng rất bạo ngược dùng quyền thế tiền bạc mua chuộc Thiên Hương đem về làm thiếp nhưng không được nên sai một thuộc hạ thân tín tên Châu Thiện cầm đầu nhóm người Miên dùng võ lực quyết bắt nàng Thiên Hương đem về cho kỳ được.

Thiên Hương bị đám côn đồ vây bắt. Giữa lúc nguy khốn thì chàng Lê Sĩ Triệt xông ra đánh đuổi cứu được nàng. Nàng rất cảm động tạ ơn chàng rồi về nhà thuật chuyện cho cha mẹ nàng rõ. Ðể đáp ơn chàng cha mẹ nàng Thiên Hương gả nàng cho Lê Sĩ Triệt. Chưa kịp đám cưới thì Lê Sĩ Triệt phải tòng quân đánh Tây Sơn. Ngày chia tay nàng ngậm ngùi nói:

- Một lời đã hứa cùng nhau thiếp nguyện thủ tiết chờ chàng trở về. Xin chàng an tâm lên đường nghĩa vụ.

Chàng ra đi nàng ở nhà vò võ trông chờ ngày đoàn tụ.

Một hôm nàng lên núi lễ Phật và thăm sư Trí Tân dưỡng phụ của Lê Sĩ Triệt. Lúc về đến chơn núi thình lình bọn Châu Thiện thấy nàng đi một mình liền vây bắt. Nàng chạy trở lên núi nhưng bị tuyệt đường đành nhào xuống khe núi tử tiết. Ba hôm sau Thiên Hương báo mộng cho sư Trí Tân trụ trì ngôi chùa trên núi. Hoà Thượng thấy Thiên Hương hiện ra nói:

- Ðệ tử là Thiên Hương 18 tuổi chẳng may bị bọn gia nô của quan Huyện Trảng Bàng vây bắt nên phải nhào xuống khe núi tử tiết. Nhờ căn tu kiếp trước nên linh hồn được siêu thoát dù đã 3 ngày nhưng xác vẫn còn nguyên xin sư phụ xuống triền núi đông nam đem thi hài của đệ tử hỏa táng giùm.

Hòa Thượng làm theo lời mách bảo tìm gặp xác của Thiên Hương làm lễ hỏa táng chu đáo. Bọn Châu Thiện đến xem hỏa táng bị nàng Thiên Hương báo oán khiến cho hộc máu chết liền tại chỗ.

Sau một thời gian khá lâu Chúa Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi chạy lạc đến Tây Ninh nàng Thiên Hương đến báo mộng mách bảo Nguyễn Ánh phải qua Xiêm tá binh sau nầy sẽ khôi phục cơ đồ thống nhứt giang sơn.

Sự linh hiển của nàng Thiên Hương được đồn vang dân chúng các nơi lên núi Tây Ninh cầu cúng rất đông. Lúc bấy giờ Thượng Quốc Công Lê Văn Duyệt ở Gia Ðịnh đi lên núi Tây Ninh xem xét hư thực thế nào đến nơi nói với người khuất mặt:

- Hồn trinh nữ Thiên Hương quả có hiển linh hãy xuất hiện cho bổn chức xem thử.

Xảy thấy một cô gái chạy đến ứng tiếng:

- Tôi là Thiên Hương đây xin chào Thượng quan.

Thì ra Lý Thị Thiên Hương nhập vào xác của một cô gái đến nói chuyện với quan Thượng Công. Cô nói tiếp:

- Tôi xin mách trước cho Thượng quan biết Thượng quan sau nầy sẽ được phong Thần vinh hiển nhưng xác của Thượng Công bị hành hạ mả bị xiềng xích tên tuổi bị đục khoét sau mới được minh oan.

Ngài Thượng Công Lê văn Duyệt nói:

- Bổn chức không cầu xin biết tương lai của mình mà muốn biết rõ căn do của nàng.

Hồn Thiên Hương qua miệng cô gái thuật rõ mọi việc:

- Thượng Ðế chứng lòng đoan chính của thiếp nên cho thiếp hết đọa luân hồi và được xuống trần cứu nhơn độ thế.

Ngài Thượng Công không còn nghi ngờ gì nữa liền dâng sớ về triều tâu rõ mọi việc.

Vua Gia Long nhớ lại chuyện bôn tẩu năm xưa khi đến Tây Ninh có nàng Thiên Hương hiển linh báo mộng nên ra sắc chỉ phong Lý Thị Thiên Hương là Linh Sơn Thánh Mẫu chủ trì Linh Sơn Tiên Thạch Ðộng cho cất điện và đúc tượng bằng đồng đen để thờ nơi núi Tây Ninh.

Kể từ đó núi Tây Ninh được gọi là núi Linh Sơn và để tránh gọi tên Thiên Hương dân chúng gọi là Bà Ðen vì tượng của Bà màu đen và gọi núi ấy là núi Bà Ðen.

Lễ Vía Linh Sơn Thánh Mẫu được tổ chức hằng năm tại Ðiện Bà vào dịp đầu Xuân từ ngày mùng 10 đến 15 tháng Giêng âm lịch có hằng trăm ngàn người đến cúng vái cầu xin sự phò hộ của Bà để việc kinh doanh và việc gia đình được may mắn tốt đẹp.

More.....

Nghị luận về vấn đề tự học.

Oct 26 2008 06:16:28

 

ĐỀ RA: NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ TỰ HỌC

CÁC EM LÀM THEO HƯỚNG DẪN SAU!

                  1. Thế nào là tự học ?

- Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi học hỏi để hiểu biết thêm.

2. Lợi ích và hứng thú của công việc tự học ?

- Ở bất cứ bộ môn nào lĩnh vực nào kiến thức cũng liên tục thay đổi theo những kết quả nghiên cứu mới đáp ứng yêu cầu do cuộc sống đặt ra. Trong khi đó kiến thức ở trường học phải theo một khung chương trình nhất định phù hợp với nhiều đối tượng nên có khi không bắt kịp sự thay đổi đó không đáp ứng đầy đủ yêu cầu của người học.

- Tự học giúp chúng ta bổ khuyết nền giáo dục ở trường bắt kịp những kiến thức phong phú mới mẻ đáp ứng được nhu cầu của thời đại. Dù làm ngành gì nghề gì cũng cần tự học thường xuyên. Nếu không chúng ta sẽ trở nên lạc hậu cũ mòn.

- Đồng thời bên cạnh việc đem lại những kiến thức việc tự học cũng đem lại sự hứng thú yêu thích lĩnh vực mà mình theo đuổi.

3. Tự học như thế nào để đạt hiệu quả ?

- Có hai kiểu tự học chính: tự học có người chỉ dẫn và tự học không có người chỉ dẫn. Tuy nhiên dù học theo kiểu nào hình thức tự học quan trọng nhất vẫn là đọc sách. (Gần đây có thêm hình thức truy cập thông tin trên mạng Internet tuy nhiên đó cũng chỉ là nguồn thông tin khác nhau. Điều quan trọng nhất vẫn là cách đọc và xử lý thông tin của người tự học)

- Đọc sách là một việc quen thuộc của người tự học và mỗi người có thói quen đọc sách khác nhau. Tuy nhiên cần phải rèn luyện những kỹ năng thói quen tốt để việc đọc sách thực sự có hiệu quả .

- Quan sát tìm hiểu trong thực tế cuộc sống ở lĩnh vực bộ môn mình nghiên cứu .

- Lịch sử khoa học-nghệ thuật thế giới đã có những tấm gương tự học vĩ đại: nhà bác học Ê-đi-xơn tác giả của hàng ngàn phát minh khoa học có ích cho nhân lọai đại văn hào Nga Mácxim Gorki người coi cuộc sống là "những trường đại học của tôi"....Việt Nam cũng có những tấm gương như thế :Chủ tịch Hồ Chí Minh người luôn tự học không ngừng ở nhiều lĩnh vực biết nhiều ngọai ngữ; học giả Đào Duy Anh tác giả nhiều từ điển nhiều công trình nổi tiếng ....vv

More.....

PHÍA SAU TÂY TIẾN ( Theo An Ninh Thế giới)

Oct 24 2008 22:00:04

PHÍA SAU BÀI THƠ TÂY TIẾN

Theo báo AN NINH THẾ GIỚI




Hầu hết những thế hệ học trò ngày nay đều từng được học bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng - một tác phẩm ra đời từ những năm 40 của thế kỷ trước nhưng đến nay vẫn được đánh giá là có sức lôi cuốn cả một thế hệ thanh niên.

Những câu chuyện xung quanh Tây Tiến dưới đây được chính nhạc sĩ Quang Vĩnh - con trai cả của cố nhà thơ Quang Dũng - hiện sống tại Thái Nguyên kể lần đầu tiên.

Tây tiến đã "bị" sửa như thế nào?

Quang Dũng tham gia đoàn quân Tây tiến năm 1947 và hành quân lên Tây Bắc với nhiệm vụ phối hợp với bộ đội nước bạn để bảo vệ vùng biên giới Việt Lào.

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm

Ban đầu bài thơ được Quang Dũng đặt tên là Nhớ Tây tiến. Ông sáng tác rất nhiều nhưng không hiểu sao lại trăn trở nhất với riêng bài thơ này.

Ông Quang Vĩnh kể lại nhiều lần ông thấy cha mình ngồi rất lâu trước một cuốn sổ tay băn khoăn về cái tít vỏn vẹn có 3 chữ ấy. Có lẽ Tây tiến là một kỷ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời binh nghiệp của Quang Dũng nên bài thơ thấm đẫm linh hồn đoàn quân hào hoa ngày nào ông luôn muốn có một sự chỉn chu đến từng câu chữ.


Cuối cùng Quang Dũng lấy bút bỏ đi chữ "Nhớ". Dù còn nhỏ nhưng ông Vĩnh cũng buột miệng hỏi sau khi thấy cha "bóp trán" hàng năm trời mà chỉ sửa được vọn vẹn duy nhất một chữ: "Chữ Nhớ đâu có ảnh hưởng nhiều đến vần điệu bài thơ sao bố nghĩ gì mà lâu thế?". Quang Dũng chỉ cười mà rằng: "Tây tiến nhắc đến là đã thấy nỗi nhớ rồi. Thế nên để chữ nhớ là thừa. Không cần thiết nữa con trai ạ".

Đến quãng năm 1956 có lẽ vẫn chưa "dứt duyên" nổi với Tây tiến một buổi sáng Quang Dũng lại mang cuốn sổ thơ của mình ra "ngâm cứu". Rồi như cần đến một người tri kỷ Quang Dũng gọi con trai lại và hỏi: "Con đọc cho bố nghe cả bài thơ rồi cho nhận xét xem nó thế nào". "Khi ấy tôi còn rất nhỏ" - ông Vĩnh nói - "mới học lớp 7 nên nào biết cảm nhận văn chương thơ phú nó ra làm sao thậm chí đọc bài thơ ấy còn thấy hơi... ngang ngang".

Tuy vậy nhưng ra vẻ con nhà nòi ông Vĩnh cũng "phán" bừa một câu rằng: "Con thấy câu Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người nghe nó cứ "chối" thế nào. Hay bố thay cái địa danh khác vào nghe cho nó hợp chứ Mường Hịch nghe nặng nề quá".

Thực ra lúc ấy ông Vĩnh chỉ thấy nó có vẻ không vần điệu lắm với khổ thơ trên nhưng nghe vậy Quang Dũng ngần ngừ một lát rồi suy tính thế nào lại mỉm cười nói thế thì không ổn con trai ạ.

Mãi về sau ông Vĩnh mới vỡ lẽ ra cái sự ngần ngừ không ổn ấy bắt nguồn từ một nguyên do Mường Hịch còn là một địa danh gắn liền với kỷ niệm bất ngờ của cha mình. Trong một lần hành quân đoàn quân Tây tiến đã dừng chân ở Mường Hịch gần sông Mã. Người dân nơi đây kể cho Quang Dũng về một con cọp đã thành tinh chuyên bắt người ăn thịt. Rất nhiều dân lành đi rừng đã bị con cọp này vồ mất xác.

Thấy bộ đội có súng nên một số người dân ngỏ lời nhờ bộ đội Tây tiến diệt trừ giúp. Vốn là người gan dạ khỏe mạnh mới nghe thế máu mã thượng trong người Quang Dũng đã bốc lên. Ông gọi một số anh em trong đơn vị lại rồi lấy một con lợn trói tại gốc cây làm mồi bẫy còn bản thân cùng anh em chia nhau nấp đợi hổ về.

Nửa đêm dân làng nghe thấy mấy tiếng súng vọng lại từ rừng già rồi sau đó là tiếng hổ gầm điên loạn gần sáng thì thấy Quang Dũng dẫn đầu một tốp bộ đội hớn hở tìm về người ngợm ướt đẫm sương.

Mãi sau này người ta mới biết lúc bị thương con hổ điên cuồng chống trả Quang Dũng phải nổ mấy phát súng mới kết liễu được nó. Vậy mà cái địa danh đáng nhớ ấy suýt nữa thì ông Vĩnh cắt mất của cha mình.
Quang Dũng... còn sống

Mặc dù có người cha là cây bút được đánh giá là "nhà thơ mang trong mình dòng máu lãng du vào loại bậc nhất trong thi đàn đất Việt thế kỷ XX" nhưng ông Quang Vĩnh không bao giờ khoe khoang điều đó. Với đám con của mình ông luôn dặn ra ngoài đừng bao giờ vỗ ngực là cháu của Quang Dũng cả. Chính vì thế mới xảy ra câu chuyện nực cười.

Đó là khi con gái ông chị Bùi Phương Lê ngày còn đi học phổ thông một hôm học đến bài thơ Tây tiến của ông nội. Thực ra chị Phương đã đọc bài thơ này tới cả trăm lần đã được cha kể lại cho hàng trăm lần về những kỷ niệm của ông nội trên đường ra trận. Tiết văn học hôm đó cả lớp học cũng đặc biệt hứng thú với bài thơ.

Học sinh đưa ra rất nhiều câu hỏi về nội dung bài thơ cho thày giáo. Và để chứng minh mình là người am hiểu ông thày hôm đó đã cao hứng kể: Mới tuần trước tôi còn ngồi với Quang Dũng dưới Hà Nội. Rằng câu chuyện về đoạn thơ này nhà thơ Quang Dũng lấy tứ ở đâu khổ thơ kia lấy cảm hứng chỗ nào. Chính Quang Dũng tâm sự với tôi như thế. Tóm lại là nghe... như thật.

Mặc dù rất băn khoăn nhưng khi đó chị Lê cũng phải sững sờ vì khi đó Quang Dũng đã mất được chục năm. Hết giờ học chị về kể lại điều đó với ông Vĩnh. Không chỉ riêng ông Vĩnh mà cả nhà đều tròn xoe mắt. Riêng bà Bùi Thị Thạch - vợ nhà thơ Quang Dũng - bây giờ vẫn ở chung với con giai trưởng thì cười độ lượng: "Ông mày làm một bài thơ mà bây giờ thành bất tử. Thế là hơn đứt nhiều người rồi còn gì".

Tất nhiên câu chuyện Quang Dũng đột nhiên sống lại trong một tiết văn học của học sinh cấp III đến nay chỉ có gia đình nhà thơ biết và mỗi khi nhắc đến những kỷ niệm về Quang Dũng bà Thạch vẫn tường thuật lại câu chuyện đó như một cách trách yêu ông chồng tài hoa của mình.

Bài thơ Tây Tiến đáng giá bao nhiêu?

Bút tích Tây Tiến của Quang Dũng với nét chữ nắn nót như học trò bây giờ vẫn được lưu giữ tại nhà ông Quang Vĩnh ở Thái Nguyên.

Ông Vĩnh kể khi mới ra đời bài thơ này gây được tiếng vang rất lớn bởi khi đó đại đa số chiến sĩ trong đoàn quân Tây tiến là trí thức học sinh sinh viên Hà Nội. Nét hào hoa trong từng câu chữ nói về đoàn quân "xanh màu lá" khiến cho không ít thiếu nữ Hà thành có người yêu là lính Tây tiến phải nhỏ lệ.

Chính vì vậy cho đến mãi tận sau này có lẽ đây là bài thơ duy nhất của người lính miền Bắc được ngay cả những người lính cộng hòa miền Nam yêu thích chép lại trong sổ tay. Nhiều nhà xuất bản dưới thời Việt Nam cộng hòa cũng cho in hàng loạt.

Mỗi lần in xong không biết bằng cách nào nhưng họ đều gửi sách biếu đến tận nơi. Tuy nhiên để tránh những hiểu lầm Quang Dũng đều mang đốt sạch.

Sau này khi đất nước hoàn toàn thống nhất bỗng một hôm gia đình Quang Dũng nhận được một lá thư gửi đến từ địa chỉ không quen biết. Nội dung trong thư là chuyện của một tỷ phú đất Sài Gòn. Giống hệt như trong Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân ông tỷ phú nọ ngỏ lời mời Quang Dũng vào Sài Gòn chơi một chuyến để ông ta được ngồi cùng đàm đạo.

Trong thư ông tỷ phú tha thiết đài thọ toàn bộ mọi phí tổn chuyến đi những mong Quang Dũng vào đó và tự tay chép tặng ông ta bài thơ Tây tiến để ông ta treo tại bàn làm việc. Lẽ ra với một người hâm mộ thơ của mình như thế thì có lẽ cha tôi cũng đã "chẳng phụ một tấm lòng tri kỷ trong thiên hạ" - ông Vĩnh kể.

Thế nhưng cuối lá thư ông tỷ phú nọ lại "dại dột" tái bút: Nếu được ông chiếu cố vào viết tặng cho bài thơ Tây tiến thì thù lao chí ít cũng phải là một chiếc Honda. Ngoài ra nếu ông có thể tặng thêm cho vài câu thơ khác thì số quà tặng còn giá trị hơn rất nhiều.

Đọc xong lá thư - ông Vĩnh kể tiếp - cha tôi chỉ cười nhạt mà rằng: "Văn chương chữ nghĩa rẻ rúng đến thế ư?". Rồi có lẽ câu chuyện gạ "bán thơ" ấy ông cũng quên khuấy mất trong mớ ngẫu sự thường ngày.

Bằng chứng là sau năm 75 khi có dịp vào Sài Gòn thăm chị gái ông cũng chỉ ở rịt trong nhà chẳng đi ra đến ngoài. Duy nhất có một lần bà chị gái ép Quang Dũng đi chơi phố thì ông nhất định đòi phải cải trang ăn mặc thành một tay chơi đất Sài Gòn rồi mới chịu bước chân ra đường. Ấy thế mà vẫn có người nhận ra.

Lần đó Quang Dũng đứng chọn sách trong một tiệm bán văn hóa phẩm một người đàn ông trung niên đi ra bỗng vỗ vai ông hỏi: "Ông có phải Quang Dũng - tác giả Tây tiến không tôi nhìn giống bức ảnh trong cuốn sách ở nhà lắm". Ông Vĩnh kể không hiểu cha tôi học tiếng Nam khi nào mà ông trả lời ngay: "Ông nhầm rồi tôi ở Bạc Liêu mới zô".

Ông Vĩnh nói vui: Có lẽ cha tôi lại sợ có người gạ "bán thơ" nên mới không dám nhận như thế. GS Hoàng Như Mai cũng kể lại: "Sau giải phóng tôi vào Sài Gòn giảng bài có đọc sách báo cũ. Về Hà Nội tôi bô bô với Quang Dũng: Này ông ở Sài Gòn họ ca tụng ông ghê lắm. Quang Dũng vội xua tay: "Thôi xin ông ông đừng nói với ai nhé".

Mặc dù "giàu thơ" như thế nhưng Quang Dũng lại có cuộc sống hết sức đạm bạc. Bà Thạch vợ nhà thơ nhớ lại năm 1960 có một phái đoàn văn hóa nước ngoài sang Việt Nam cứ nhất định đòi đến thăm tư gia tác giả Tây tiến.

Căn nhà bé tí tẹo của ông ở 91 Lý Thường Kiệt lại... hơi tồi tàn nên cơ quan "tạm" chuyển ông tới 51 Trần Hưng Đạo nay là trụ sở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam cho đẹp mặt.

Có lẽ muốn giữ thể diện cho những nhà thơ Việt Nam trong con mắt khách nước ngoài nên Quang Dũng đành chấp nhận màn kịch ấy.

Ngay cả đến khi bị liệt Quang Dũng cũng dạo chơi phố phường Hà Nội lần cuối trên chiếc xe lăn do bạn bè nước ngoài gửi tặng. Cho đến tận những ngày cuối đời nhà thơ hào hoa này vẫn chọn cho mình một cuộc sống thanh bạch.

Theo An Ninh Thế Giới

More.....

CẢM NHẬN VỀ TÂY TIẾN

Oct 22 2008 21:35:43


 

TINH THẦN TÂY TIẾN!







   Năm 1998 tình cờ trong một lần lục lại tờ sinh hoạt Đoàn của tôi mà mẹ tôi cất trong chiếc rương cũ kĩ ( thường dùng để đựng những kỉ vật của gia đình) tôi nhìn thấy một cuốn sổ nhỏ giấy màu nâu đã xỉn màu năm tháng. Tôi hồi hộp mở ra xem và không kìm nổi nước mắt trước một trang giấy mà trong đó là những dòng chữ đầy tráng khí của cha tôi một thời lịch sử. Đó là một bức vẽ chưa hoàn chỉnh với một cái nhìn từ phía bên này bờ sông trông sang bên bờ kia. Ở đó cha tôi vẽ một ngôi nhà thờ với cây thánh giá vươn cao sau một lùm cây rậm rạp. Sau tháp cây thánh giá là những đám mây nổi cồn lên vần vũ và một đàn chim đang dáo dát bay. Phía dưới cha vẽ hình một khẩu súng một mũ tai bèo và mấy dòng chữ in đậm: NHỚ MÃI NĂM 1968 RA ĐI KHÔNG HẸN NGÀY TRỞ LẠI. Trước bức tranh và dòng chữ ấy không hiểu sao tôi lại khóc rất nên thơ! Dòng chữ ấy đã khảm vào tôi một nốt nhạc trầm hùng như nhắc tôi về một thời oanh liệt mà ở đó có những con người đã mang trong mình lòng quyết tử cho một dân tộc anh hùng sống mãi với thời gian.

Hôm nay đây tôi đang đứng trước một TÂY TIẾN bi hùng một Tây Tiến đã đi vào lịch sử thơ ca như một hùng ca ngất trời tráng khí. Tôi rất ấn tượng với những câu này:

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Chiến trường là bom đạn khốc liệt là cái chết cận kề là dữ dội nguy nan nhưng sao ở đây câu thơ điềm tĩnh quá và có phần ngạo đời khinh khi. Hai từ "chẳng tiếc" vang lên chắc nịch manng cái vẻ bất cần mang cái vẻ ngạo nghễ rất lính. Đời xanh - là tuổi trẻ là cuộc sống non xanh mơn mởn. Tuổi trẻ ai chẳng mang cho mình khát vọng hạnh phúc tình yêu ai chẳng mong cho mình được sống với tuổi thanh xuân đầy hoa mộng. Thế nhưng người lính ở đây lại " chẳng tiếc" cho mình. Phải chăng ở họ cái máu anh hùng của thời đại đã ngấm sâu   đã in đậm vào trong trí não vào dòng máu Lạc Hồng mấy ngàn năm lịch sử. Hiểu lắm chứ biết lắm chứ những con người của thời đại anh hùng trong họ chỉ có một điều tâm niệm đó là Tổ Quốc - tiếng gọi thân thương mà gẫn gũi như lời thơ Chế Lan Viên:

Ôi tổ quốc ta yêu như máu thịt

Như mẹ cha ta như vợ như chồng

Ôi tổ quốc nếu cần ta chết

Cho mỗi cuộc đời bỗng hóa núi sông ta

Chết cho tổ quốc chính là chết cho lí tưởng. Còn quyết tâm nào cao quý và thiêng liêng hơn thế nữa chăng ?

Ta chợt nhớ tới tích Kinh Kha sang đất Tần hành thích bạo chúa Tần Thủy Hoàng bên bờ sông Dịch chàng dứt áo ra đi với khẩu khí yêng hùng tráng sĩ: " Sông Dịch ù ù gió thổi/ Tráng sĩ một đi không trở về". Vậy là người lính cụ Hồ không chỉ mang vẻ đẹp của thời đại mà còn mang một vẻ đẹp cổ kính đượm màu hiệp sĩ xa xưa.

Còn tấm áo bào kia ai ban mà đẹp vậy?  Không! chẳng ai ban cho họ cả mà chính là lí tưởng đã khoác lên mình họ tấm áo bào thiêng liêng tấm áo bào của chính tình yêu tác giả và vạn ngàn con người Việt Nam đang thành tâm trước họ. Chiếc chiếu cói nhàu rách kia đã từng theo họ suốt chiến trường là vật bất li thân cũng là tấm áo bào của lòng thành kính đưa những người con ưu tú của dân tộc về với đất mẹ. Đất nước ta năm tháng ấy còn nghèo các anh ngã xuống thì đồ đạc quân trang không chôn theo mà lại để lại cho bạn bè. Những người bạn của họ lại mặc chính chiếc áo của đồng đội mình đã ngã xuống để tiếp tục chiến đấu và cống hiến. Ta chợt cảm động trước lời thơ của Chế Lan Viên:

Con nhớ anh con người anh du kích

Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn

Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách

Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con

Các anh không chết các anh chỉ về với đất mẹ sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ. Đất mẹ giang rộng vòng tay đón họ trở về. Đừng mộng mơ rằng chết là lên thiên đường hay cõi niết bàn nào đó xa xôi. Họ chết là về với mẹ nên cái chết của họ đã hóa thành bất tử cái chết đã làm cho " cuộc đời đã hóa núi sông ta". Tôi chợt nhớ tới câu thơ của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng sau khi tìm được gần 400 ngôi mộ Liệt sĩ ở Knắc ( Tây Nguyên):

Người hi sinh đất hồi sinh

Máu người hóa ngọc lung linh giữa đời

           

Vâng! Cái chết của họ máu xương của họ đã gửi về đất mẹ làm cho "lá cờ cách mạng thêm đỏ thắm" làm cho tinh thần Việt Nam càng bất khuất kiêu hùng. Thương làm sao con sông Mã chứng nhân của lịch sử bạn đồng hành của Tây Tiến cũng nhỏ dòng lệ cảm thương lay động cả đất trời đã gầm lên "khúc độc hành" khúc tráng ca bi hùng rực rỡ nét sử thi.

Ôi thật cảm động và kính mến biết bao những anh hùng ấy những anh hùng đã làm nên lịch sử đã làm nên tượng đài Việt Nam bất tử với thời gian. Càng thương nhớ ta càng thấm thía lời căn dặn thiết ta của Nguyễn Khoa Điềm:

Em ơi em

Đất nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên đất nước muôn đời

Vâng! Thời gian đã đi qua bụi thời gian có thể đã dày lên năm tháng nhưng tinh thần của một thời đại thì còn sống mãi tới muôn đời. Giá trị của Tây Tiến chính là ở đây!

More.....

BỨC TRANH TỨ BÌNH VIỆT BẮC

Oct 13 2008 22:18:30

 

ĐỀ RA: Bình giảng bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc

BÀI LÀM

Nhắc đến Việt Bắc là nhắc đến cội nguồn của cách mạng nhắc đến mảnh đất trung du nghèo khó mà nặng nghĩa nặng tình - nơi đã in sâu bao kỉ niệm của một thời kì cách mạng gian khổ nhưng hào hùng sôi nổi khiến  khi chia xa lòng ta sao khỏi xuyến xao bồi hồi. Và cứ thế sợi nhớ sợi thương cứ thế mà đan cài xoắn xuýt như tiếng gọi "Ta - mình" của đôi lứa yêu nhau. Đúng như lời thơ Chế Lan Viên từng viết " Khi ta ở đất chỉ là nơi ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn". Vâng! Việt Bắc đã hóa tâm hồn dào dạt nghĩa yêu thương trong thơ Tố Hữu với những lời thơ như tiếng nhạc ngân nga với cảnh với người ăm ắp những kỉ niệm ân tình có bao giờ quên được.


                  "
Ta về mình có nhớ ta

                                                Ta về ta nhớ những hoa cùng người

                                                Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

                                                Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

                                                Ngày xuân mơ nở trắng rừng

                                                Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

                                                Ve keo rừng phách đổ vàng

                                                Nhớ cô em gái hái măng một mình

                                                Rừng thu trăng rọi hòa bình

                                    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung"

Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị thơ ông diễn tả những tình cảm cách mạng thật nhẹ nhàng mà cũng thật đậm sâu. Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu nói riêng của thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung. Bài thơ được viết vào tháng 10/1954 khi Trung ương Đảng và Chính phủ Bác Hồ và cán bộ kháng chiến từ giã "Thủ đô gió ngàn" về với "Thủ đô Hoa vàng nắng Ba Đình". Cả bài thơ là một niềm hoài niệm nhớ thương tuôn chảy về những năm tháng ở chiến khu Việt Bắc rất gian khổ nhưng vui tươi hào hùng. Nhưng có lẽ để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong bài ca Việt Bắc có lẽ là đoạn thơ về bức tranh tứ bình với bốn mùa xuân - hạ - thu - đông.

            Mở đầu đoạn thơ là hai câu thơ giới thiệu nội dung bao quát cảm xúc chung của đoạn thơ:

"Ta về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người"

Câu thơ đầu tiên sử dụng câu hỏi tu từ "mình có nhớ ta" câu thơ thứ hai là tự trả lời điệp từ "ta" lặp lại bốn lần cùng với âm "a" là âm mở khiến câu thơ mang âm hưởng ngân xa tha thiết nồng nàn. Với Tố Hữu người cán bộ ra đi không chỉ nhớ đến những ngày tháng gian khổ "bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng" mà còn nhớ đến vẻ đẹp đáng yêu của Hoa cùng Người. Ở đây hoa tượng trưng cho vẻ đẹp thiên nhiên Việt Bắc. Còn con người là con người Việt Bắc với tấm áo chàm nghèo khổ nhưng đậm đà lòng son. Hoa và Người quấn quýt với nhau trong vẻ đẹp hài hòa đằm thắm để tạo nên cái nét riêng biệt độc đáo của vùng đất này.Chính điều ấy đã tạo nên cái cấu trúc đặc sắc  cho đoạn thơ.Trong bốn cặp lục bát còn lại câu sáu dành  cho nhớ hoa nhớ cảnh câu tám dành cho nhớ người.Cảnh và Người trong mỗi câu lại có những sắc thái đặc điểm riêng thật hấp dẫn.

Nhắc đến mùa đông ta thường nhớ đến cái lạnh thấu xương da cái ảm đạm của những ngày mưa phùn gió bấc cái buồn bã của khí trời u uất. Nhưng đến với Việt Bắc trong  thơ Tố Hữu thì thật lạ. Mùa đông bỗng ấm áp lạ thường:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng


[Image]
   Điểm xuyết trên cái nền màu xanh
bát ngát bao la của cánh rừng là màu hoa chuối đỏ tươi đang nở rộ lung linh dưới ánh nắng mặt trời. Từ xa trông tới bông hoa như những bó đuốc thắp sáng rực tạo nên một bức tranh với đường nét màu sắc vừa đối lập vừa hài hòa vừa cổ điển vừa hiện đại.Cái màu "đỏ tươi" - gam màu nóng của bông chuối nổi lên giữa màu xanh bát ngát của núi rừng làm cho thiên nhiên Việt Bắc trở nên tươi sáng ấm áp và như tiềm ẩn một sức sống xua đi cái hoang sơ lạnh giá hiu hắt vốn có của núi rừng. Câu thơ làm ta liên tưởng đến màu đỏ của hoa lựu trong thơ Nguyễn Trãi:

More.....

Truyện Ngắn của thầy đăng trên báo Tuổi trẻ

Sep 30 2008 12:23:54

 

Hoa xuyến chi



 Lâu lắm thành phố mới có một ngày nắng đẹp như hôm nay. Con sông hiền hòa uốn khúc giữa lòng phố và sóng vỗ nhẹ nhàng dưới chân cầu nghe miên man như câu hát.

Tôi thả bộ dọc theo cây cầu nối đôi bờ thơ mộng định bụng sẽ dừng lại ở đâu đó và ghi lại cho mình một bài thơ để kỷ niệm một ngày đẹp trời và hơn hết để lấy tinh thần cho một công tác mới mà tôi sẽ nhận vào ngày mai. Tôi miên man và lẩm nhẩm một vài câu thơ thì bỗng trong trẻo sau lưng một giọng nói nhỏ nhẹ:

- Anh sẽ cho em đi theo cùng chứ ?

Giới thiệu trưởng Gia đình Áo Trắng Biên Hòa

Phan Danh Hiếu tốt nghiệp khoa văn ĐH Sư phạm Huế 2004. Hiện dạy học và viết báo ở TP Biên Hòa. Đã đoạt các giải thưởng: Thơ Bút Mới 2003 Mực Tím 2003. Có thơ và truyện đăng nhiều báo và tạp chí.

Các bạn ở Biên Hòa Đồng Nai có thể liên hệ email: phandanhhieu@yahoo.com

ĐT: 0919.576.585. Gửi thư: Phan Danh Hiếu giáo viên Trường THPT Bùi Thị Xuân P. Tân Tiến Biên Hòa Đồng Nai.

Tôi ngoảnh lại và nhìn xung quanh xem thử có phải tôi là người được may mắn nhận được câu hỏi kia không. Và xuất hiện trước mặt tôi là một cô bé có đôi mắt đen tròn lúng liếng khuôn mặt trắng ngần  được điểm tô bằng hai lúm đồng tiền xinh xắn để mỗi khi cười lại thấy hiện lên nét ngây thơ và trong sáng vô cùng. Tôi ngạc nhiên và hỏi em:

- Em cũng làm thơ à ?

Em gật gật đầu và như chừng đồng cảm lắm. Khi đó nghĩa là tôi sẽ bắt đầu có một người bạn ít nhất là bây giờ có một người bỗng dưng nhận mình là một người làm thơ. Tôi cũng gật gật đầu ra chiều đồng ý. Thế là đôi mắt ấy long lanh sáng và hồ hởi một nụ cười má lúm. Chúng tôi đứng sát lan can cầu nhìn ra sông rộng. Thấy tít tắp giữa dòng một con thuyền với những đợt sóng lấp lóa ánh mặt trời. Cô bé nhướng cặp mắt nhìn xa xôi và bất chợt khuôn mặt ấy buồn buồn. Nhìn dễ thương như một nụ hồng. Tôi thấy mình tự dưng bâng khuâng đến lạ. Chắc cô bé đến nơi này và mang cho tôi một niềm cảm hứng?

- Năm nay em bao nhiêu tuổi ?

- Em hả ? Mất hết ý niệm về thời gian rồi.

- Thật sao ?

- Ư! Từ hồi lên tám cơ!

- Sao vậy ?

- Một tai nạn

- Mất trí nhớ à ? Tôi chọc vui.

- Không...

- Thế thì sao ? Tôi hơi nóng ruột. Và cô bé thì im lặng khuôn mặt hơi buồn như đang đau một điều gì đó thẳm sâu. Con sông trước mặt tôi như cũng gợn lên từng đợt sóng buồn xao xác. Hồi lâu em quay qua tôi nhỏ nhẹ:

- Ba má em mất lâu rồi. Trong một vụ tai nạn.

- Ồ! Anh xin lỗi vì...!!!

- Không sao em quên chuyện đó rồi. Với em đó như là một giấc mơ. Em cũng đã từng sống với những tháng ngày đau khổ. À! Mà thôi không nhắc chuyện này nữa.

- Ừ! Có lý. Tôi ủng hộ em và niềm nở một nụ cười thông cảm làm cô bé cũng cảm thấy vui vui và đôi mắt ấy lại long lanh.

- Còn anh anh làm nghề lang thang à ? Cô bé quay sang tôi giọng hóm hỉnh.

- Ừ! Lang thang đấy anh thấy cái nghề này cũng vui và hay hay nữa. Khi thích thì mình đi không thích thì mình đứng ngồi. Có ai bắt được đâu...

Cô bé gật đầu. Chúng tôi cùng cười. Nắng trước mặt sông lấp loáng. Trên cao mây nhởn nhơ lang thang trôi qua bầu trời trong như những niềm vui.

oOo

Ngôi trường cấp III hiện lên trước mắt tôi với những dãy phòng học khang trang. Sân trường rợp bóng cây vài chiếc lá bàng đỏ ối rụng xuống mơ màng như tôi đang đứng trước một ngày xa lạ. Lớp tôi chủ nhiệm nằm tít trên lầu bốn ở cuối dãy hành lang. Từ xa nhìn tới đã thấy ba bốn khuôn mặt ló ra chờ đợi.

Tôi cố lấy bình tĩnh và nở một nụ cười thật tươi để chuẩn bị "chiến đấu". Nhưng khi bước vào tôi mới thấy sự chuẩn bị của mình quả là thừa thãi bởi không như tôi nghĩ học trò rất là ngoan. Ít nhất là lúc này đây cả lớp đứng dậy nghiêm trang và chào tôi bằng một câu tiếng Anh hơi ồn ào: "Good morning teacher". Tôi thấy hơi tức cười và bối rối vì tôi là giáo viên Văn mà trò lại chào như chào một giáo viên Anh ngữ.

Màu áo trắng tinh và những khuôn mặt ngời lên ngoan ngoãn khiến tôi quên mất mình phải nói câu gì. Tôi ra hiệu cho các trò ngồi xuống. Bất ngờ một khuôn mặt đỏ dừ đang cố lấy quyển vở che mặt khiến tôi chú ý. Và chợt à lên trong trí hừm lại cô bé hôm qua láo thật. Như đoán biết được tôi đã phát hiện ra trò liền quả quyết bỏ ngay quyển vở xuống và đưa mắt nhìn tôi thách thức và nguýt một cái dài như... cây số. Hừ lại láo nữa dám nguýt cả thầy cơ đấy tôi thầm nghĩ...

Buổi chiều tôi lại vòng xe lên cầu Mới đứng vịn vào lan can ngắm nhìn cảnh hoàng hôn đang chan hòa trên mặt sông. Sau lưng dòng người vẫn hối hả ngược xuôi.

- Chào thầy ?

Một giọng nói nghe quen quá tôi ngoảnh lại và gặp nụ cười của cô bé:

- A! Chào em một sự ngạc nhiên phải không?

- Bình thường. Mặt trò tỉnh bơ làm tôi phát tức.

- Phải nói là: Thưa thầy em thấy bình thường chứ ai lại nói trống không vậy bao giờ ? - tôi chỉnh.

- Vâng! Em xin lỗi ...

Một thoáng im lặng bởi cách xưng hô phải thay đổi. Trò bắt đầu tinh quái:

- Sao thầy nói thầy làm nghề lang thang ? Cô bé nói mà mắt chăm chú nhìn tôi không chớp.

- Trời ạ bộ không thấy thầy lang thang hết lớp này đến lớp khác là gì ? Người ta còn bảo nghề giáo viên là "Suốt đời tôi làm nghề hát rong" mà...

Cô bé cũng thấy có lý nên xoay tôi sang hướng khác:

- Mà thầy ơi nhà thầy ở đâu ?

- À ở chỗ lối vào khu chung cư Bình An cái nhà lầu cao cao đó...

- Trời nhà thầy giàu vậy sao. Trò tròn xoe mắt và tôi thì như mở cờ trong bụng.

- Hic không phải... nhà thầy ở bên cạnh cái nhà lầu đó.

Nghe thế cô trò cười híp mắt.

- Thầy tếu ghê!

- Mà này thầy chưa biết tên em ?

- Em ấy à ? Tên em gắn liền với một loài hoa dại. Hoa xuyến chi...

- Hoa xuyến chi ? Vậy sao ? Em đã bao giờ thấy hoa xuyến chi chưa ?

- Em chưa một lần.

- Thế mà cũng bày đặt "Tên em gắn liền với một loài hoa... dại". Tôi cố gắng kéo dài từ "hoa dại" để thử gân cô bé. Nhưng phản ứng lại câu đùa của tôi là một sự bâng khuâng dường như tôi đã vô tình khơi dậy trong em điều gì đó thẳm sâu. Giọng cô bé buồn buồn:

- Ba má em đặt tên em như vậy. Mà nghe đâu má em rất thích loài hoa này nên bà đã đặt tên cho em.

Tôi hơi bất ngờ trước cách ăn nói của cô học trò này. Hình như ẩn chứa trong từng lời nói là một nỗi buồn thẳm sâu. Tôi nhẹ nhàng nói:

- Rồi một ngày thầy sẽ chỉ cho em loài hoa ấy. Nó đẹp lắm đẹp như cái tên má em đặt cho em...

- Thầy hứa với em chứ ? Em muốn biết vì sao má em lại thích loài hoa này...

- Ừ thầy hứa với em...

oOo

Chủ nhật tôi ngồi cẩn thận ghi chép từng hồ sơ của học trò vào cuốn sổ nhỏ. Với học trò Nguyễn Lê Xuyến Chi tôi hơi ngần ngại khi đọc được mấy dòng chữ ngắn ngủi mà em viết trong sơ yếu lý lịch. Ba má đều mất ở với cậu cậu làm nghề phụ hồ. Phần ghi số nhà và điện thoại đều bỏ trống. Tôi còn biết thêm ba của em đã từng lớn lên ở cô nhi viện trước khi gặp má em. Tôi chạnh lòng trước mất mát của em.

Có lẽ chính vì thế mà đôi mắt của trò luôn ánh lên tia buồn bã và cô đơn đến tội nghiệp. Nhưng kỳ lạ thay đã vài tháng làm công tác chủ nhiệm ở lớp này tôi thấy em học rất giỏi và nhanh nhẹn năng động trong mỗi tiết học khác hẳn với cái vẻ buồn buồn mỗi lần gặp tôi. Đang suy nghĩ miên man chợt mùi hương xuyến chi nhẹ nhàng theo gió len vào trong căn phòng nhỏ.

Tôi hít một hơi thật dài và đứng dậy bước ra ngoài khoảng sân nơi phần đất tôi cố công đào xới trồng lên một luống hoa xuyến chi để thực hiện lời hứa với cô trò nhỏ. Sau những cơn mưa phương Nam luống cây xanh mượt và nở đầy những bông hoa trắng li ti. Những bông hoa tinh khôi dưới ánh nắng mặt trời rực rỡ. Trong tôi đang đầy ắp những dự định về những bất ngờ tôi sẽ dành cho cô bé.

Nhưng rồi một buổi sáng kia...

- Thầy ơi em sắp xa thầy.

Tôi cười cười lại bắt đầu giở trò đây. Thấy thầy có vẻ không tin trò liền nghiêm nghị:

- Em và cậu sắp sang Mỹ định cư cùng ông bà ngoại. Nhưng thầy đừng nói cho lớp biết nghe thầy.

Em có vẻ ngập ngừng. Lúc này tôi tin là em nói thật vì hơn ai hết tôi biết ở xứ sở này em chẳng còn ai ngoài một người bà con thất nghiệp. Có thể điều đó tốt hơn cho em chăng. Và bỗng dưng thấy lòng mình cũng buồn rưng rức. Tôi không nói một lời nào cả chỉ thấy gió từ ngoài hành lang tấp vô cay xè đôi mắt. Em lẳng lặng đi xuống chỗ ngồi và nằm úp mặt lên bàn. Tôi nhìn thấy đôi bờ vai nhỏ nhắn ấy khẽ rung lên...

Những ngày sau đó tôi không gặp em nữa. Lớp học rầm rì chuyện Xuyến Chi nghỉ học bất thường nhưng chẳng ai biết nhà Chi ở đâu. Ngay cả tôi cũng không biết bây giờ em đang ở Việt Nam hay đã bay sang trời Âu?

Chủ nhật tôi lang thang dọc triền sông và lại lên cây cầu đứng ngắm nhìn xa xôi. Đúng chỗ này đây cách đây nửa năm tôi đã gặp cô học trò tội nghiệp người đã cho tôi những kỷ niệm đẹp về buổi đầu làm nghề thầy giáo. Cô bé đã cho tôi biết cách quan tâm đến những nỗi đau của người khác.

- Thầy à em Xuyến Chi nè!

Tôi giật mình lần đầu tiên trong đời có một cảm giác ớn lạnh dọc sống lưng. Tôi ngoảnh lại nhìn quanh quất nhưng kỳ thực không thấy em. Ai đùa chăng ? Chợt có tiếng cười khúc khích. Tôi xoay người lại. Trời ạ thì ra cô bé đang ngồi thụp xuống sau lưng tôi nãy giờ. Tôi mừng rỡ:

- Thầy tưởng em đi rồi hic... Sao em nghỉ học lâu vậy? Thầy và các bạn rất nhớ em.

- Em đi rồi chớ bộ đi rất xa xa lắm. Nhưng em nhớ thầy còn nợ em một chuyện nên em quay về.

- Thầy nhớ rồi hoa xuyến chi ?

- Vâng! Thầy cho em được nhìn loài hoa ấy chứ ?

- Ừ ngay bây giờ... Về chỗ trọ của thầy đi có các bạn nữa.

Đôi mắt em long lanh một niềm tin tưởng. Tôi dắt xe xuống lòng đường ý bảo em ngồi lên tôi chở đi. Nhưng tôi cũng chẳng hiểu vì sao cô bé lại biến đi đường nào mặc tôi dáo dác tìm quanh. Tôi cười thầm chắc lại giở trò ú tim đây ?! Nghĩ thế tôi lại dắt xe dựa lan can nhưng chờ hoài cả buổi không thấy em quay lại. Tôi cảm thấy bực bội kinh khủng. Đành quay xe về nhà với cái  bụng cồn cào đói.

oOo

Sáng thứ hai khi tôi bước vào lớp đã nghe xôn xao một điều gì đó bất ổn. Một không khí buồn buồn bao trùm lên cả lớp. Quế Anh lớp trưởng nghèn nghẹn báo cho tôi:

- Thầy ơi... bạn Chi mất rồi!

Một thoáng nhíu mày và như chợt nhớ ra điều gì tôi tỉnh bơ vì tôi biết rất rõ ngày hôm qua tôi mới nói chuyện với em:

- Làm gì có chuyện đó nay mai Chi sẽ trở lại lớp mình đấy.

- Không thầy ơi bạn ấy mất cách đây bốn hôm rồi. Bạn ấy bị tai nạn. Nhà nội em ở ngoại thành hôm qua em về thăm nội mới biết chuyện này.

Và như để chứng minh là mình nói đúng cô bé vừa nói vừa chìa tờ báo địa phương ra trước mắt tôi. Tôi bắt đầu thấy run run và người tự dưng thấy lành lạnh: Nguyễn Lê Xuyến Chi học sinh trường THPT... tôi chưa kịp đọc hết đoạn tin đã thấy mắt mình nhòe đi. Thôi đúng rồi! À mà không tại sao hôm qua ? Có lẽ nào!? Tai tôi ù đi. Trước mắt tôi tưởng chừng như tất cả đang quay cuồng. Một cảm giác trống trải và sợ hãi đang vây bám lấy tôi khiến tôi rùng mình ớn lạnh. 

Xuyến Chi  đã ra đi thật mộ em nằm giữa cánh đồng bạt ngàn hoa xuyến chi loài hoa dại mà em chưa và sẽ không bao giờ còn biết nó nữa. Như chiều nay trước con sông này đầy sóng. Tôi cầm bó hoa xuyến chi trên tay rồi thả những cành hoa trắng muốt từ từ rơi xuống dòng sông. Phía xa kia tận cuối dòng sông tím ngát hoàng hôn một ngôi sao nhỏ bay vút lên cao mãi cao mãi.

PHAN DANH HIẾU

More.....

THƠ GỬI HỌC TRÒ

Sep 30 2008 12:08:35

 

THƠ GỬI HỌC TRÒ

Tặng các học trò tôi


Như các em bây giờ nghịch ngợm vô tư

Thầy cũng đã đi qua một thời tuổi trẻ

Thương biết mấy tuổi học trò trong trẻo

Áo trắng sân trường ngập những ước mơ



Rồi thầy cũng tập tạnh làm thơ

Cho niềm vui nhân lên còn nỗi buồn nhỏ bé

Đôi khi cũng thoáng có chút gì rất nhẹ

Đậu bâng khuâng trong đôi mắt một người



Rồi năm tháng đã qua ngày rong chơi

Bạn bè úp mặt vào lo toan sách vở

Năm cuối cấp ôi chao là nhớ

Sợ phút chia tay là hết tuổi học trò...



Như các em bây giờ...thầy dặn phải chăm lo

Hãy sống cho ước mơ cho bạn bè yêu dấu

 Mai đi khắp phương trời vẫn nhớ về bến đậu

Nơi mái trường tuổi trẻ những ...ngày vui




Phan Danh Hiếu

More.....

DÀN Ý PHÂN TÍCH KHỔ 1 BÀI TÂY TIẾN

Sep 29 2008 21:56:03

 

DÀN Ý PHÂN TÍCH KHỔ 1 BÀI TÂY TIẾN

1. Khổ 1 ( Sông Mã ... nếp xôi)

Bài thơ mở đầu bằng hai câu thơ gợi nhớ gợi thương:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến  ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

•-         Vần "ơi" kết hợp từ láy "chơi vơi" là vần bằng tạo âm hưởng của tiếng gọi đồng vọng miên man không dứt. Nỗi nhớ như có hình dáng của núi non của hồn cây vách đá con sông.

•-         Tác giả gọi tên con Sông Mã đầu tiên trong nỗi nhớ của mình. Vì con sông Mã là người bạn là nhân chứng đã theo suốt bước chân quân hành chứng kiến biết bao buồn vui bao mất mát hi sinh vất vả của người lính TT. Gọi tên TT là gọi tên đồng đội gợi nhớ bạn bè.

•-         Điệp từ "nhớ" được nhắc lại hai lần góp phần tô đậm cảm xúc nhớ nhung dâng trào.

Dẫn chứng minh họa thêm: Thơ ca VN khi nói về nỗi nhớ có nhiều cách diễn tả:

Ca dao có câu:

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa như ngồi đống than

Diễn tả tình cảm cách mạng Tố Hữu có câu:

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương

Nhưng đến Quang Dũng thì nỗi nhớ sáng tạo hơn cả - nhớ chơi vơi. Chơi vơi là trạng thái trơ trọi giữa khoảng không rộng không thể bấu víu vào đâu cả. Nhớ chơi vơi có thể hiểu là một mình giữa thế giới hoài niệm mênh mông bề bộn không đầu không cuối không thứ tự thời gian không gian. Đó là nỗi nhớ da diết miên man bồi hồi làm cho con người có cảm giác đứng ngồi không yên.

  • Đó là nỗi nhớ về cuộc hành quân giữa núi rừng miền Tây vừa hùng vĩ lại vừa thơ mộng trữ tình được cảm nhận bằng cảm hứng lãng mạn và tâm hồn lãng mạn hào hoa.

Nhớ cuộc hành quân giữa núi rừng miền Tây hùng vĩ:

 


  • - Nhắc đến nhiều địa danh: Sài Khao Mường lát Pha Luông Mường Hịch Mai Châu... gợi bao cảm xúc mới lạ tác giả như đưa người đọc lạc vào những địa hạt heo hút hoang dại.
  • - 6 câu thơ tiếp theo " Sài khao....xa khơi" diễn tả thật đắc địa sự hùng vĩ của núi rừng miền Tây. 6 câu thơ này là bằng chứng đặc sắc của "thi trung hữu họa" (trong thơ có họa):

Cụ thể:

Con đường hành quân thật gian nan vất vả nguy hiểm với dốc cao vực thẳm:

+ Trên đỉnh Sài Khao sương dày đến độ lấp cả đoàn quân.

+ Đường đi toàn dốc cao được diễn tả với nhiều từ láy tạo hình "khúc khuỷu" (quanh co khó đi) "thăm thẳm" (diễn tả độ cao độ sâu) "heo hút" (xa cách cuộc sống con người).

+ Sử dụng nhiều thanh trắc đi liền nhau khiến khi đọc lên ta có cảm giác trúc trắc mệt mỏi. + Núi cao tận mây mây nổi thành cồn mũi súng chạm trời. Nghệ thuật nhân hóa "súng ngửi trời" vừa diễn tả độ cao vừa cho thấy chất tinh nghịch trong cảm nhận của người lính. Chính vì chất lính trẻ trung ấy mà trước thiên nhiên dữ dội người lính TT không bị mờ đi mà nổi lên đầy thách thức.

+ " Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống" với nghệ thuật đối làm câu thơ như bẻ đôi diễn tả con dốc với chiều cao sâu rợn ngợp: nhìn lên cao chót vót nhìn xuống sâu thăm thẳm.

+ Câu thứ sáu toàn thanh bằng đọc lên nghe êm ái nhẹ nhàng như xoa dịu bước chân mệt mỏi rã rời trước con đường hành quân gian khổ.

  • - Sự dữ dội của núi rừng cũng vắt kiệt sức người: "Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục lên súng mũ bỏ quên đời". Cái chết đậm chất bi hùng: Chết trong tư thế đẹp ôm chắc cây súng trong tay sẵn sàng chiến đấu không quên nhiệm vụ của người lính.
  • - Sự hùng vĩ còn là oai linh của núi rừng miền Tây: nghệ thuật nhân hóa tiếng thác gầm thét tiếng cọp trêu người càng tô đậm vẻ hoang sơ bí hiểm dữ dằn của núi rừng. Thiên nhiên như đang đùa giỡn với mạng sống của con người "Chiều chiều oai linh thác gầm thét/ Đêm đêm mường Hịch cọp trêu người"
  • -

           

Núi rừng miền Tây thơ mộng trữ tình.

 


  • - Cuộc hành quân đi trong sương đi trong đêm hoa đêm hơi: "Sài khao....đêm hơi". Miền Tây bồng bềnh trong cơn mưa rừng mịt mù làm cho những ngôi nhà Pha Luông như trôi giữa biển khơi mờ ảo " Nhà ai... xa khơi". Đó là sự thơ mộng của những ngọn khói bình yên tỏa ra từ những mái nhà Mai Châu hay bên bát cơm đầu mùa thơm mùi xôi nếp đậm tình quân dân " Nhớ ôi... nếp xôi"

More.....