SỨC SỐNG TIỀM TÀNG CỦA NHÂN VẬT MỴ (VỢ CHỒNG A PHỦ)

Feb 03 2010 08:06:07

  Đề ra: Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mỵ thể hiện trong cảnh ngộ từ khi cô bị bắt về làm dâu nhà thống lí Pá Tra.


DÀN Ý PHÂN TÍCH

Khái niệm sức sống tiềm tàng
:
sức sống tiềm tàng là sức sống nội tại bên trong có sẵn ở bên trong nhưng bị che lấp nó như một hòn than âm ỉ cháy trong lớp tro nguội lạnh và  khi có điều kiện thì sẽ bùng cháy. Mị giống như cây hoa đào hoa mận Tây Bắc: trước mùa xuân thì gầy guộc mong manh nhưng lại ẩn chứa một sức sống mãnh liệt ở bên trong để chờ ngày mùa xuân mà bung nở màu hoa đẹp nhất.

More.....

NGƯỜI ĐÀN BÀ LÀNG CHÀI

May 31 2009 06:57:05



PHÂN TÍCH HÌNH TƯỢNG NGƯỜI ĐÀN BÀ LÀNG CHÀI TRONG TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA CỦA NHÀ VĂN NMC

ĐÂY LÀ SƯỜN BÀI CÁC EM TỰ LÀM NHÉ!

Trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho người đọc là người đàn bà làng chài - người phụ nữ vô danh với tấm lòng bao dung vị tha đức hi sinh cao thượng mà khiến khi gấp trang sách lại ta không thể nào quên.

Để tạo nên hình tượng người đàn bà  ấy nhà văn đã tạo ra tình huống truyện độc đáo và từ tình huống độc đáo này mà nhân vật dần hé lộ số phận:

        Truyện được kể lại qua lời của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng một người lính vừa bước ra từ cuộc chiến tranh nhiều đau thương mất mát. Phùng được dịp trở về chiến trường xưa để chụp một bức tranh cảnh biển theo lời đề nghị của trưởng phòng. Tại đây anh đã phát hiện ra một bức tranh cảnh biển có một không hai(dẫn chứng) . Nhưng đằng sau chiếc thuyền đẹp như trong mơ ấy lại là một cảnh tượng phũ phàng: người chồng vũ phu thô bạo hành hạ người đàn bà bằng những trận đòn thù người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng (dẫn chứng). Phùng từ sung sướng đến ngạc nhiên sững sờ sửng sốt. Nghịch cảnh ấy khiến lòng anh tan vỡ.

Xuyên suốt toàn bộ câu chuyện hầu như người đọc không hề được biết đến tên gọi của người đàn bà tội nghiệp ấy NMC đã gọi một cách phiếm định: khi thì gọi là người đàn bà  hàng chài lúc lại gọi mụ khi thì gọi chị ta.... Không phải nhà văn "nghèo" ngôn ngữ đến độ không thể đặt cho chị một cái tên mà là vì Chị cũng giống như hàng trăm người đàn bà ở vùng biển nhỏ bé này: CHỊ LÀ NGƯỜI VÔ DANH. Dường như cuộc sống chẳng có gì đáng nói nhưng trong chị lại chứa đựng nhiều điều kì diệu khiến người khác phải suy nghĩ.
- Ngoại hình: trạc ngoài 40 hình dáng thô kệch rỗ mặt khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới tái ngắt và  gợi ấn tượng người đàn bà xấu xí mệt mỏi dường như đang buồn ngủ.  Và cuộc đời nhọc nhằn lam lũ vất vả đau khổ làm cho diện mạo chị đã xấu giờ trở nên thô kệch.

- Số phận: Bất hạnh
Dường như mọi sự bất hạnh của cuộc đời đều trút cả lên chị xấu nghèo khổ lam lũ lại phải thường xuyên chịu những trận đòn roi của người chồng vũ phu tổn thương đau xót cho các con phải nhìn cảnh bố đánh mẹ...
+ Cái xấu đã đeo đuổi chị như định mệnh suốt từ khi còn nhỏ
+ Có mang với một anh hàng chài đến mua bả về đan lưới rồi thành vợ chồng. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc vất vả lam lũ bấp bênh
+ Gia đình nghèo lại còn đông con thuyền thì chật ...
+ Bị chồng thường xuyên đánh đập hành hạ: ba ngày một trận nhẹ năm ngày một trận nặng. Cứ khi nào lão thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh như là để trút giận như đánh 1 con thú với lời lẽ cay độc" Mày chết đi cho ông nhờ chúng mày chết hết đi cho ông nhờ". Khi bị đánh chị không hề kêu một tiếng không chống trả không tìm cách chạy trốn mà  coi đó là một lẽ đương nhiênNgười đàn bà ấy nhẫn nhục cam chịu thầm lặng chịu đựng mọi đau đớn tất cả vì những đứa con.
 Số phận đầy bi kịch được tác giả tái hiện đầy cảm thông và chia sẻ.
- Phẩm chất tính cách:
+ Nhẫn nhục chịu đựng: chị coi việc mình bị đánh đó như 1 phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình chị chấp nhận không kêu van không trốn chạy. Khi được đề nghị giúp đỡ thì : "Quý tòa bắt tội con cũng được phạt tù con cũng được nhưng đừng bắt con bỏ nó".
 Chị hiểu cơ cực của của cuộc sống mưu sinh trên biển không có người đàn ông.
+ Yêu thương con tha thiết(" phải sống cho con chứ không thể sống cho mình")
        Nguyên nhân sâu xa của sự cam chịu chính là tình thương con vô bờ bến của chị. Sự cần thiết của việc có người đàn ông làm chỗ dựa để chèo chống khi phong ba bão táp cùng nuôi dạy các con " Đàn bà trên thuyền chúng tôi phải sống cho con ko thể sống cho mình như trên đất được".
Tình thương vô bờ đối với những đứa con Phân tích ty của chị với thằng Phác chị gửi nó lên rừng chị đau xót khi thấy nó vì thương mẹ mà hận bố ....
=> Tình mẫu tử vút lên trên cái nền của 1 cuộc sống cơ cực ngang trái đau đớn đầy xót xa .
+ Người đàn bà vị tha
Trong khổ đau triền miên người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi ( "...nhìn con được ăn no có khi vợ chồng con cái sống vui vẻ hoà thuận")
+Người đàn bà thất học nhưng lại rất sắc sảo thấu hiểu lẽ đời
Ý thức được thiên chức của người phụ nữ ("Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho đến khi khôn lớn")
Vì hoàn cảnh: trong cuộc mưu sinh đầy cam go: thuyền ở xa biển cần một người đàn ông khỏe mạnh biết nghề.
Đó là sự cam chịu nhẫn nhục đáng cảm thông chia sẻ. Bởi nếu hiểu sự việc một cách đơn giản chỉ cần yêu cầu người đàn bà bỏ chồng là xong. Nhưng nhìn vấn đề một cách thấu suốt thì suy nghĩ và cách xử sự của người đàn bà là không thể khác được.
 Đắng sau sự nhẫn nhục ấy là bản năng sinh tồn mãnh liệt và một tấm lòng yêu thương mê muội đáng thương. Người đàn bà hàng chài vừa lam lũ chất phác có tình thương con vô bờ bến vừa luôn mang nỗi đau vừa có cái thâm trầm trong việc thấu hiểu các lẽ đời.
Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao phụ nữ Việt Nam nhân hậu bao dung giàu lòng vị tha và đức hi sinh.
     Qua câu chuyện của người đàn bà ta càng thấy rõ: Không thể dễ dãi đơn giản trong việc nhìn nhận mọi sự vật hiện tượng của cuộc sống không thể có cái nhìn một chiều phiến diện với con người và cuộc sống. Đây cũng ;à nét mới trong văn xuôi sau năm 1975 mà NMC chính là vị "khai quốc công thần của triều đại văn học mới".

 

More.....

TÂY TIẾN (Phân tích đầy đủ)

May 29 2009 05:45:40

 

PHÂN TÍCH THƠ HAY VĂN XUÔI THÌ TRƯỚC KHI KẾT BÀI PHẢI NÓI VỀ NGHỆ THUẬT CỦA TÁC PHẨM:
Văn xuôi thì thường kết là: bằng nghệ thuật miêu tả tài tình cộng với ngôn ngữ mộc mạc giản dị tác giả đã làm hiện lên....

TÂY TIẾN

Quang Dũng

 


Câu 1
: Vài nét về tác giả Quang Dũng ? Giới thiệu về đoàn quân Tây Tiến ? Hoàn cảnh ra đời bài thơ Tây Tiến ?

a. Tác giả

Quang Dũng (1921 - 1988) tên khai sinh: Bùi Đình Diệm (tức Dậu).

Quê: Đan Phượng Hà Tây.

Là nghệ sĩ đa tài: làm thơ viết văn vẽ tranh soạn nhạc...

2001 được tặng giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật.

Tác phẩm chính:

Mây đầu ô (thơ - 1986) Mùa hoa gạo Tuyển thơ văn Quang Dũng (1988)

b. Giới thiệu đoàn quân Tây Tiến

Thành lập đầu năm 1947. Quang Dũng là đại đội trưởng.

Thành phần: đa số là thanh niên Hà Nội trong đó có sinh viên và học sinh.

Nhiệm vụ: phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao lực lượng Pháp ở Thượng Lào miền Tây Bắc bộ Việt Nam góp phần bảo vệ biên giới Lào - Việt.

Địa bàn hoạt động: khá rộng gồm Sơn La Hòa Bình Sầm Nứa (Lào) vòng về miền tây Thanh Hóa.

Điều kiện chiến đấu gian khổ: núi cao vực thẳm rừng dày thú dữ sốt rét hoành hành.

c. Hoàn cảnh ra đời bài thơ:

1948 đơn vị Tây Tiến giải thể thành lập trung đoàn 52.

Cuối 1948 Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Bài thơ được sáng tác tại Phù Lưu Chanh sau khi rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu. Lúc đầu có tên Nhớ Tây Tiến sau khi in lại trong tập Mây đầu ô tác giả đổi tên thành Tây Tiến.

Câu 2: Phân tích bài thơ Tây Tiến.

 

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng.

Cảm hứng lãng mạn là niềm lạc quan yêu đời đạp bằng tất cả những gian khổ hi sinh mất mát hướng về tương lai hi vọng trông chờ.

Cảm hứng bi tráng (bi hùng): bi là đau thương hùng là hào hùng nghĩa là vừa bi thương lại vừa hào hùng.

1. Khổ 1 ( Sông Mã ... nếp xôi)

 

Bài thơ mở đầu bằng hai câu thơ gợi nhớ gợi thương:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến  ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

•-                         Vần "ơi" kết hợp từ láy "chơi vơi" là vần bằng tạo âm hưởng của tiếng gọi đồng vọng miên man không dứt câu thơ sâu lắng bồi hồi ngân dài từ lòng người vọng vào thời gian năm tháng lan rộng lan xa trong không gian. Nỗi nhớ như có hình dáng của núi non của hồn cây vách đá con sông.

•-                         Tác giả gọi tên con Sông Mã đầu tiên trong nỗi nhớ của mình. Vì con sông Mã là người bạn là nhân chứng đã theo suốt bước chân quân hành chứng kiến biết bao buồn vui bao mất mát hi sinh vất vả của người lính TT. Gọi tên TT là gọi tên đồng đội gợi nhớ bạn bè.

•-                         Điệp từ "nhớ" được nhắc lại hai lần góp phần tô đậm cảm xúc nhớ nhung dâng trào của tác giả.

Dẫn chứng minh họa thêm: Thơ ca VN khi nói về nỗi nhớ có nhiều cách diễn tả:

Ca dao có câu:

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa như ngồi đống than

Diễn tả tình cảm cách mạng Tố Hữu có câu:

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương

Nhưng đến Quang Dũng thì nỗi nhớ sáng tạo hơn cả - nhớ chơi vơi. Chơi vơi là trạng thái trơ trọi giữa khoảng không rộng không thể bấu víu vào đâu cả. Nhớ chơi vơi có thể hiểu là một mình giữa thế giới hoài niệm mênh mông bề bộn không đầu không cuối không thứ tự thời gian không gian. Đó là nỗi nhớ da diết miên man bồi hồi làm cho con người có cảm giác đứng ngồi không yên. Và nỗi nhớ ấy tiếng gọi ấy đang đưa nhà thơ về với những kỉ niệm không quên của một thời gian khổ.

•·        Đó là nỗi nhớ về cuộc hành quân giữa núi rừng miền Tây vừa hùng vĩ lại vừa thơ mộng trữ tình được cảm nhận bằng cảm hứng  lãng mạn và tâm hồn lãng mạn hào hoa.

 

Nhớ cuộc hành quân giữa núi rừng miền Tây hùng vĩ:


 


•-         Tác giả gợi nhắc nhiều địa danh xa lạ: Sài Khao Mường lát Pha Luông Mường Hịch Mai Châu... gợi bao cảm xúc mới lạ tác giả như đưa người đọc lạc vào những địa hạt heo hút hoang dại để từ đó dõi theo bước chân quân hành của người lính.

•-         6 câu thơ tiếp theo " Sài khao....xa khơi" diễn tả thật đắc địa sự hùng vĩ của núi rừng miền Tây. 6 câu thơ này là bằng chứng đặc sắc của "thi trung hữu họa" (trong thơ có họa):

Cụ thể:

Con đường hành quân thật gian nan vất vả nguy hiểm với dốc cao vực thẳm:

Sài Khao sương......

Mường Lát.........

+ Trên đỉnh Sài Khao sương dày đến độ lấp cả đoàn quân. Đoàn quân hành quân trong sương lạnh giữa núi rừng trùng điệp mệt mỏi rã rời. Tuy vậy họ vẫn thấy con đường hành quân thật đẹp và thơ mộng: đi trong sương trong hoa đêm hơi.

Dốc lên......

Heo hút...

Ngàn thước...

Nhà ai...

+ Đường đi toàn dốc cao được diễn tả với nhiều từ láy tạo hình "khúc khuỷu" (quanh co khó đi) "thăm thẳm" (diễn tả độ cao độ sâu) "heo hút" (xa cách cuộc sống con người). Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đi liền nhau "dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm"  (bảy chữ mà đã có tới 5 vhwx là thanh trắc) khiến khi đọc lên ta có cảm giác trúc trắc mệt mỏi như đang cùng hành quân với đoàn binh vậy.

+ Đỉnh núi mù sương cao vút. Núi cao tận mây mây nổi thành cồn mũi súng chạm trời. Mũi súng của người chiến binh được nhân hóa tạo nên một hình ảnh: "súng ngửi trời" giàu chất thơ mang vẻ đẹp cảm hứng lãng mạn cho ta nhiều thi vị. Nó khẳng định chí khí và quyết tâm của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao mà đi tới "Khó khăn nào cũng vượt qua - Kẻ thù nào cũng đánh thắng!". Chính vì chất lính trẻ trung ấy mà trước thiên nhiên dữ dội người lính TT không bị mờ đi mà nổi lên đầy thách thức.

+ Thiên nhiên núi đèo xuất hiện như để thử thách lòng người: "ngàn thước lên cao ngàn thước xuống". Hết lên lại xuống xuống thấp lại lên cao đèo nối đèo dốc tiếp dốc không dứt. Câu thơ được tạo thành hai vế tiểu đối: "Ngàn thước lên cao // ngàn thước xuống" làm câu thơ như bẻ đôi diễn tả con dốc với chiều cao sâu rợn ngợp: nhìn lên cao chót vót nhìn xuống sâu thăm thẳm. Hình tượng thơ cân xứng hài hòa cảnh tượng núi rừng hùng vĩ được đặc tả thể hiện một ngòi bút đầy chất hào khí của nhà thơ - chiến sĩ.

+ Có cảnh đoàn quân đi trong mưa: "Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi". Câu thơ được dệt bằng những thanh bằng liên tiếp gợi tả sự êm dịu tươi mát của tâm hồn những người lính trẻ trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Trong màn mưa rừng tầm nhìn của người chiến binh Tây Tiến vẫn hướng về những bản mường những mái nhà dân hiền lành và yêu thương nơi mà các anh sẽ đến đem xương máu  và lòng dũng cảm để bảo vệ và giữ gìn.

+ Sự dữ dội của núi rừng cũng vắt kiệt sức người: "Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục lên súng mũ bỏ  quên đời". Cái chết đậm chất bi hùng: Chết trong tư thế đẹp ôm chắc cây súng trong tay sẵn sàng chiến đấu không quên nhiệm vụ của người lính. Hiện thực chiến tranh xưa nay vốn như thế! Sự hy sinh của người chiến sĩ là tất yếu. Xương máu đổ xuống để xây đài tự do. Vần thơ nói đến cái mất mát hy sinh nhưng không chút bi luỵ thảm thương.

            + Ta trở lại đoạn thơ trên gian khổ không chỉ là núi cao dốc thẳm không chỉ là mưa lũ thác ngàn mà còn có tiếng gầm của cọp beo nơi rừng thiêng nước độc nơi đại ngàn hoang vu:

"Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người"

"Chiều chiều..." rồi "đêm đêm" nhưng âm thanh ấy "thác gầm thét" "cọp trêu người" luôn khẳng định cái bí mật cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêng. Chất hào sảng trong thơ Quang Dũng là lấy ngoại cảnh núi rừng miền Tây hiểm nguy để tô đậm và khắc họa chí khí anh hùng của đoàn quân Tây Tiến. Mỗi vần thơ đã để lại trong tâm trí người đọc một ấn tượng: gian nan tột bậc mà cũng can trường tột bậc! Đoàn quân vẫn tiến bước người nối người băng lên phía trước. Uy lực thiên nhiên như bị giảm xuống và giá trị con người như được nâng cao hẳn

 

Hai câu cuối đoạn thơ cảm xúc bồi hồi tha thiết. Như lời nhắn gửi của một khúc tâm tình. Như tiếng hát của một bài ca hoài niệm vừa bâng khuâng vừa tự hào:

"Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi"

"Nhớ ôi!" tình cảm dạt dào đó là tiếng lòng của các chiến sĩ Tây Tiến "đoàn binh không mọc tóc". Câu thơ đậm đà tình quân dân. Hương vị bản mường với "cơm lên khói" với "mùa em thơm nếp xôi" có bao giờ quên? Hai tiếng "mùa em" là một sáng tạo độc đáo về ngôn ngữ thi ca nó hàm chứa bao tình thương nỗi nhớ điệu thơ trở nên uyển chuyển mềm mại tình thơ trở nên ấm áp.

"Nhớ mùi hương" nhớ "cơm lên khói" nhớ "thơm nếp xôi" là nhớ hương vị núi rừng Tây Bắc nhớ tình nghĩa nhớ tấm lòng cao cả của đồng bào Tây Bắc thân yêu. Mười bốn câu thơ trên đây là phần đầu bài "Tây Tiến" một trong những bài thơ hay nhất viết về người lính trong 9 năm kháng chiến chống Pháp. Bức tranh thiên nhiên hoành tráng trên đó nổi  bật lên  hình ảnh chiến sĩ can trường và lạc quan đang dấn thân vào máu lửa với niềm kiêu hãnh

" Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh...".

Đoạn thơ để lại một dấu ấn đẹp đẽ về thơ ca kháng chiến mà sự thành công là kết hợp hài hòa giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

Nửa thế hệ đã trôi qua bài thơ " Tây Tiến của Quang Dũng ngày một thêm sáng giá.


           

2. Khổ 2 ( Doanh trại...đong đưa)

Bốn câu đầu: (chép vào) đêm liên hoan văn nghệ đậm tình quân dân.

+ Từ " Bừng lên" gợi cảm giác ấm áp gợi niềm vui lan tỏa. Đêm rừng núi thành đêm hội ngọn đuốc nứa đuốc lau thành "đuốc hoa" ("Đuốc hoa" là hoa chúc - cây  nến đốt lên trong phòng cưới đêm tân hôn.)gợi không khí ấm cúng. "Bừng" chỉ ánh sáng của đuốc hoa của lửa trại sáng bừng lên; cũng còn có nghĩa là tiếng khèn tiếng hát tiếng cười tưng bừng rộn rã.

 + Từ "kìa em" thể hiện sự ngạc nhiên ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của cô gái vùng cao trong trang phục "xiêm áo" lộng lẫy cùng dáng vẻ "e ấp" rất thiếu nữ. Những thiếu nữ Mường những thiếu nữ Thái những cô gái Lào xinh đẹp duyên dáng "e ấp" xuất hiện trong bộ xiêm áo rực rỡ cùng với tiếng khèn "man điệu" đã "xây hồn thơ" trong lòng các chàng lính trẻ.Cũng có thể hiểu người lính đang đóng giả con gái trong những trang phục dân tộc rất độc đáo tạo tiếng cười vui cho đêm văn nghệ. Họ càng yêu đời hơn yêu đất bạn hơn " Nhạc về..."

+ Không chỉ thế người lính còn mải mê say trong tiếng nhạc điệu khèn của vùng đất lạ.

4 câu sau: Cảnh sông nước Tây Bắc vừa thực vừa mộng :hoang vắng tĩnh lặng buồn thi vị.

Thời gian: chiều sương ấy gợi màu sắc bảng lảng sương khói vừa có nỗi buồn man mác.

Sông nước hoang dại bên bờ lau lách hoa rừng đong đưa. Hình ảnh "hoa đong đưa" là một nét vẽ lãng mạn gợi tả cái "dáng người trên độc mộc" trôi theo thời gian và dòng hoài niệm. Đoạn thơ gợi lên một vẻ đẹp mơ hồ thấp thoáng gần xa hư ảo trên cái nền "chiều sương ấy". Cảnh và người được thấy và nhớ mang nhiều man mác bâng khuâng. Bút pháp thi pháp của chủ nghĩa lãng mạn để lại dấu ấn tài hoa qua đoạn thơ này.

 

+ Dáng người mềm mại của cô gái Thái Mèo trên chiếc thuyền độc mộc hay dáng người hùng dũng hiên ngang của người lính đang đưa con thuyền tiến về phía trước càng làm cho bức tranh thêm phần thơ mộng.

"Có nhớ" "có thấy" luyến láy khắc họa thêm nỗi nhớ: lưu luyến bồi hồi.

Nghệ thuật:  ngôn ngữ thơ mộc mạc giản dị hồn thơ mang đậm chất lãng mạn hào hoa.

3. Khổ 3

Hình tượng người lính Tây Tiến  bi thương hào hùng lãng mạn.

Giữa nền thiên nhiên khắc nghiệt hình ảnh người lính hiện lên thật kì dị: Quang Dũng đã dùng những hình ảnh rất hiện thực để tô đậm cái phi thường của người lính.

Bi thương: Ngoại hình ốm yếu tiều tụy đầu trọc da dẻ xanh như màu lá. Đoàn quân trông thật kì dị: " TT đoàn binh...oai hùm".

Đó là hậu quả của những ngày hành quân vất vả vì đói và khát của những trận sốt rét ác tính làm tóc rụng không mọc lại được da dẻ héo úa như tàu lá.

Dẫn chứng minh họa thêm:

Giọt giọt mồ hôi rơi

Trên má...............

Anh vệ................

Sao mà................

(TH)

Tôi với anh................

Sốt run......................

Hào hùng: thủ pháp nghệ thuật đối lập giữa ngoại hình ốm yếu và tâm hồn mạnh mẽ: Đoàn binh không mọc tóc" " Quân xanh màu lá" tương phản với " dữ oai hùm". Cả ba nét vẻ đều sắc góc cạnh hình ảnh những " Vệ túm" "Vệ trọc" một thời gian khổ đươc nói đến một cách hồn nhiên. Quân phục xanh màu lá nước da xanh và đầu không mọc tóc vì sốt rét rừng thế mà quắc thước hiên ngang xung trận đánh giáp lá cà " dữ oai hùm" làm cho giặc Pháp kinh hồn bạt vía. " "Đoàn binh" gợi lên sự mạnh mẽ lạ thường của " Quân đi điệp điệp trùng trùng" của "tam quân tì hổ khí thôn ngưu" (sức mạnh ba quân nuốt trôi trâu) . Ba từ " dữ oai hùm" gợi lên dáng vẻ oai phong lẫm liệt oai của chúa sơn lâm người lính TT vẫn mạnh mẽ làm chủ tình hình làm chủ núi rừng chế ngự mọi khắc nghiệt xung quanh đạp bằng mọi gian khổ. "mắt trừng" dữ tợn căm thù mạnh mẽ nung nấu quyết đoán làm kẻ thù khiếp sợ.

Tâm hồn Lãng mạn: Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà còn rất hào hoa giữa bao nhiêu gian khổ thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động trong một nỗi nhớ về một dáng kiều thơm nhớ về vẻ đẹp của Hà Nội - Thăng Long xưa. Trước hết đó là một vẻ đẹp tấm lòng luôn hướng về Tquốc hướng về Thủ đô. Người lính dẫu ở nơi biên cương hay viễn xứ xa xôi mà lòng lúc nào cũng hướng về HNội về quê hương.

4 câu cuối ngời lên vẻ đẹp lí tưởng:

+ Câu " rải rác..." toàn từ Hán Việt gợi không khí cổ kính. Miêu tả về cái chết không né tránh hiện thực. Những nấm mồ hoang lạnh mọc lên vô danh nhưng không làm chùn bước chân Tây Tiến. Khi miêu tả những người lính Tây Tiến ngòi bút của Quang Dũng không hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương bi lụy. Cảm hứng của ông mỗi khi chìm vào cái bi thương lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng của tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi đã bị mờ đi trước lí tưởng quên mình vì Tổ quốc của người lính Tây Tiến.

+ Tinh thần chiến đấu " Chiến trường...". Ba từ "chẳng tiếc đời xanh " vang lên vừa gợi vẻ bất cần đồng thời mang vẻ đẹp thời đại " Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh" cống hiến trọn đời vì độc lập tự do của đất nước của dân tộc.

Dẫn chứng thêm:

- Ôi tổ quốc....................

Như mẹ cha.................

Ôi TQ........................

Cho mỗi ..........................

Hình ảnh ấy làm ta liên tưởng tới vẻ đẹp của những tráng sĩ thời xưa ví như Thái Tử Kinh Kha sang đất Tần hành thích Tần Thủy Hoàng cũng mang tinh thần:Tráng sĩ một đi không trở về

Kết luận: Không chỉ mang vẻ đẹp của thời đại mà ở người lính TT còn phảng phất vẻ đẹp của  tinh thần hiệp sĩ.

Coi nhẹ cái chết: " Áo bào............độc hành"

Hiện thực: Người lính chết không có manh vải liệm chỉ có manh chiếu bọc thân nhưng vẫn xem cái chết nhẹ như lông hồng. Câu thơ của QDũng không dừng lại ở mức tả thực mà đẩy lên thành cảm hứng tráng lệ coi chiếu là áo bào để cuộc tiễn đưa trở nên trang nghiêm cổ kính. QDũng đã tráng lệ hoá cuộc tiễn đưa bi thương bằng hình ảnh chiếc áo bào và sự hy sinh của người lính đã được coi là sự trở về với đất nước với núi sông. Cụm từ "anh về đất" nói về cái chết nhưng lại bất tử hoá người lính nói về cái bi thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ. Chết là về với đất mẹ "Người  hi sinh đất hồi sinh/ máu người hóa ngọc lung linh giữa đời".Mạch cảm xúc ấy đã dẫn tới câu thơ đầy tính chất tráng ca "Sông Mã gầm lên khúc độc hành"

Sông Mã tiễn đưa bằng bản nhạc của núi rừng đượm chất bi tráng như loạt đại bác đưa tiễn những anh hùng về với non sông tổ quốc.

            Nghệ thuật: sử dụng nhiều từ Hán Việt gợi sắc thái cổ kính trang nghiêm. Lời thơ hàm súc vừa đượm chất hiện thực vừa gợi chất hào hùng bi tráng.

4. Khổ cuối

Lời thề son sắt thể hiện tinh thần " Nhất khứ bất phục hồi" - Một đi không trở về.

"Tây tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi..."

Bốn câu thơ khép lại một cảm xúc bâng khuâng làm lòng ta nao nao khó tả. Chàng trai Tây tiến khi ra đi đều không ước hẹn ngày về đều sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn "quyết tử cho tổ quốc quyết sinh". Vì vậy  Cái chết với họ nào có là gì khi Hồn ta hoà vào hồn thiêng của toàn dân tộc bay lên bay lên mãi "chẳng về xuôi".

"Không hẹn ước" rồi lại "thăm thẳm một chia phôi". Quang Dũng khẳng định cái ý niệm "nhất khứ bất phục hoàn" trong hình ảnh anh bộ đội Tây Tiến cũng là cái ý niệm chung cả một thời kỳ một thế hệ con người. Đã nói nhiều điều về Tây Tiến đã nhắc lại nhiều kỷ niệm về Tây Tiến nhưng cuối cùng cái đọng lại sâu nhất bền vững nhất về Tây Tiến là cái tinh thần ấy. Giọng thơ trầm chậm hơi buồn nhưng ý thơ thì vẫn hào hùng.

"Tây Tiến mùa xuân ấy" đã trở thành cái thời điểm một đi không trở lại của lịch sử nước nhà. Sẽ không bao giờ còn có lại cái thuở gian khổ và thiếu thốn đến dường ấy nhưng cũng lãng mạn và hào hùng đến dường ấy.

More.....

VIỆT BẮC

Apr 26 2009 20:15:32


CÁC EM TỰ PHOTO NHÉ! 

 

Copyright Phandanhhieu Bui Thi Xuan high School  On thi TN THPT



VIỆT BẮC

Giới thiệu: Việt Bắc là căn cứ địa cách mạng quê hương cách mạng đầu tiên của Việt Nam gồm các tỉnh Cao - Bắc - Lạng - Thái - Tuyên - Hà nơi gắn bó tình nghĩa keo sơn của TW Đảng và chính phủ thời kì kháng chiến chống Pháp.

1. Hoàn cảnh sáng tác

7.1954 hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết miềnBắc hoàn toàn giải phóng.

Tháng 10/1954 TW Đảng và Chính phủ rời VB trở về HN. Nhân sự kiện ấy TH sáng tác bài Việt Bắc.

Bài thơ có hai phần: phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến; phần hai gợi viễn cảnh tươi sáng ca ngợi công ơn của Đảng của Bác Hồ.

SGK trích học phần đầu.

Bài thơ được kết cấu theo lối đối đáp trong ca dao trữ tình truyền thống.

PHÂN TÍCH

1. Hai mươi câu đầu

Phân tích đoạn thơ trích trong Việt Bắc của Tố Hữu:

"Mình về mình có nhớ ta (...) Tân trào Hồng Thái mái đình cây đa"

            Bốn câu đầu là lời Việt Bắc tỏ bày với người cán bộ chiến sĩ khi chia tay:

"Mình về mình có nhớ ta/ Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng /Mình về mình có nhớ không /Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn?"

            Điệp từ "nhớ" luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng tràn đầy thương nhớ. Cách xưng hô "mình - ta" mộc mạc thân gần gợi liên tưởng ca dao: "Mình về ta chẳng cho về - Ta nắm vạt áo ta đề bài thơ". "15 năm" là chi tiết thực chỉ độ dài thời gian từ năm 1940 thời kháng Nhật và tiếp theo là phong trào Việt Minh đồng thời cũng là chi tiết gợi cảm - nói lên chiều dài gắn bó thương nhớ vô vàn. Câu thơ mang dáng dấp một câu Kiều - Mười lăm năm bằng thời gian Kim - Kiều xa cách thương nhớ mong đợi hướng về nhau (Những là rày ước mai ao - Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình). Cảm xúc đậm đà chất dân gian đậm đà chất Kiều. Âm điệu ngọt ngào giọng thơ nồng ấm tình cảm do vậy dạt dào thiết tha. Việt Bắc hỏi về: "Mình về mình có nhớ không - Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn?". Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến bao hàm lời dặn dò kín đáo: đừng quên cội nguồn Việt Bắc - cội nguồn cách mạng.

            Bốn câu tiếp theo là nỗi lòng của người về:

"Tiếng ai tha thiết bên cồn/ Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi /Áo chàm đưa buổi phân li /Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay"

            "Bâng khuâng bồn chồn" là hai từ láy gợi cảm diễn tả trạng thái tâm lí tình cảm buồn vui luyến tiếc nhớ thương chờ mong... lẫn lộn cùng một lúc. Mười lăm năm Việt Bắc cưu mang người cán bộ chiến sĩ mười lăm năm gian khổ có nhau mười lăm năm đầy những kỉ niệm chiến đấu giờ phải chia tay rời xa để làm nhiệm vụ mới về tiếp quản tại thủ đô Hà Nội (10-1954) biết mang theo điều gì biết lưu lại hình ảnh nào tâm trạng của người về do vậy không tránh khỏi là nỗi niềm bâng khuâng khó tả.

            "Áo chàm đưa buổi phân li" là một ẩn dụ màu áo chàm màu áo xanh đen đặc trưng của người miền núi Việt Bắc - tác giả hướng nỗi nhớ Việt Bắc qua hình ảnh cụ thể "áo chàm" chiếc áo màu áo bình dị đơn sơ mộc mạc của vùng quê nghèo thượng du đồi núi nhưng sâu nặng nghĩa tình đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp kháng chiến cứu nước.

            Câu thơ "Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay..." đầy tính chất biểu cảm - biết nói gì không phải không có điều để giải bày mà chính vì có quá nhiều điều muốn nói không biết phải nói điều gì. Ba dấu chấm lửng đặt cuối câu là một dấu lặng trên khuôn nhạc để tình cảm ngân dài sâu lắng...

            12 câu tiếp theo kết thúc đoạn trích là lời tâm tình của Việt Bắc:

"Mình đi có nhớ những ngày/ Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù /Mình về có nhớ chiến khu /Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai?/ Mình về rừng núi nhớ ai/ Trám bùi để rụng măng mai để già/ Mình đi có nhớ những nhà/ Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son/ Mình về có nhớ núi non /Nhớ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh/ Mình đi mình có nhớ mình/ Tân Trào Hồng Thái mái đình cây đa"

            Điệp từ "nhớ" lập đi lập lại nhiều sắc thái ý nghĩa: nhớ là nỗi nhớ ghi nhớ nhắc nhở. Hàng loạt những câu hỏi tu từ bày tỏ tình cảm tha thiết đậm đà của Việt Bắc. Tình cảm lưu luyến của người đưa tiễn gửi đi nỗi nhớ mong gài lại niềm thương theo cách:

"Thuyền về có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền"

            Việt Bắc nhắc người cán bộ chiến sĩ đừng quên những năm tháng gian lao vất vả hoạt động chiến đấu trong điều kiện trang bị tiếp tế còn thô sơ thiếu thốn.

"Mình về có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai?"

"Miếng cơm chấm muối" là chi tiết thực phản ánh cuộc sống kháng chiến gian khổ. Và cách nói "mối thù nặng vai" nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ chống thực dân cướp nước đè nặng vai dân tộc ta.

            Cảm xúc thương nhớ xa vắng thả vào không gian rừng núi gợi nỗi niềm dào dạt:

"Mình về rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng măng mai để già"

            Hình ảnh "Trám bùi để rụng măng mai để già" gợi nỗi buồn thiếu vắng - "Trám rụng - măng già" không ai thu hái. Nỗi ngùi nhớ bức bối như thúc vào lòng kẻ ở lại.

            Tiễn người về sau chiến thắng và chính trên cái nền của sự chiến thắng đó đã làm cho nỗi buồn nhớ trở nên trong sáng. Việt Bắc vẫn "một dạ khăng khăng đợi thuyền" đồng thời nhắc nhở khéo léo tấm "lòng son" của người cán bộ chiến sĩ. Xin đừng quên thời kỳ "kháng Nhật thuở còn Việt Minh" đừng quên cội nguồn cách mạng đừng quên để chăm lo giữ gìn sự nghiệp cách mạng. "Mình đi mình có nhớ mình Tân Trào Hồng Thái mái đình cây đa"

            Tóm lại đoạn thơ trên là nỗi lòng thương nhớ là lời tâm tình của Việt Bắc. Đoạn thơ trên tiêu biểu sắc thái phong cách Tố Hữu giọng điệu thơ ngọt ngào truyền cảm mang đậm phong vị ca dao dân gian đề cập đến con người và cuộc sống kháng chiến. Thông qua hình tượng Việt Bắc tác giả ca ngợi phẩm chất cách mạng cao đẹp của quân dân ta khẳng định nghĩa tình thuỷ chung son sắt của người cán bộ chiến sĩ đối với Việt Bắc.

2. Đoạn 2: Tâm tình người ra đi

  Khẳng định ân tình sắt son như nhất (4 câu đầu)

Ta với mình mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu.

-           Ta với mình/mình với ta": ngắt nhịp 3/3 mình - ta lặp li xoắn xúyt > quấn quýt gắn không thể chia cắt > Vận dụng sáng tạo ca dao (Mình với ta tuy hai một/ Ta với mình tuy một hai) > mưn tình cảm lứa đôi để diễn tả tình cảm cách mạng khăng khít bền chặt.

-           Khẳng định: lòng ta - sau trước - mặn mà- đinh ninh > nhịp 2/2/2/2 kết hợp với 2 từ láy> là lời khng định chắc nịch             

-           Mình đi mình lại nhớ mình:

 Chữ "lại": thanh trc âm vực trầm nhất > câu trả li vừa lời khẳng định vừa một nguyện  thề thiêng liêng với người li với chính mình.

 Gắn với câu hỏi "Mình đi mình nhớ mình" >  Sự vận dụng sáng tạo cấu trúc ca dao (Thuyền về nhớ bến chăng/  Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền): không ch một vế đơn độc-  vế hi vừa như nêu băn khoăn vừa khẳng định lòng thu chung của bến đợi mà còn vế đáp để nói rõ sự chung thuỷ sắt son của người ra đi.

- Cách so sánh cách đo đếm đm màu sắc dân gian: Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu diễn tả được nghĩa tình cách mạng hạn tận như sui nguồn không bao giờ vơi cạn > khẳng định lòng thủy chung son sắt với cách mạng với quê hương kháng chiến của người cán bộ vê xuôi.

™  Hiện thực Việt Bắc trong hồi tưởng:

-Khái quát: Sau khi khẳng định tấm lòng trước sau như nhất người ra đi nhớ về một Việt Bắc ắp đầy kỉ nim. Hình ảnh chiến khu càng sống động bao nhiêu càng cho thấy nỗi nhớ tình cảm kẻ đi với người tươi mới bấy nhiêu. Cảnh sắc thiên nhiên cuộc sng sinh hoạt kỉ niệm kháng chiến ln lượt hiện hình nổi sắc.

Nhớ gì như nhớ người yêu

..................

Chày đêm nện cối đều đều suối xa

+ Nhớ cảnh Việt Bắc thanh bình:

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia sông Đáy suối Lê vơi đy.

- Hình ảnh so sánh như nhớ người yêu thể hiện sự gắn bó tha thiết trong tình cảm. Cách so sánh này mới lạ sáng tạo chỉ với "như nhớ người yêu" mà người đọc có thể thấy hết được tình cảm của người ra đi.

- Hình ảnh gợi cảm đầy thi vị :bản khói cùng sương bếp lửa trăng lên đầu núi rừng nứa bờ tre Ngòi Thia sông Đáy suối Lê ... gợi nhớ những nét nhớ nhung tưởng như nhẹ nhàng mà lại hóa tha thiết mãnh liệt.

+ Nhớ những ngày khó khăn gian khổ nhưng đậm đà tình nghĩa:

Ta đi ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi...

Thương nhau chia củ sn lùi

Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng

            Tuy thiếu thốn gian khổ nhưng cảnh và người Việt Bắc đẹp và tình nghĩa chan hòa:

            Hình ảnh tượng trưng: "Chia củ sắn lùi bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng" kết hợp với cách dùng từ cùng nghĩa "chia sẻ cùng" diễn tả được mối tình cảm "chia ngọt sẻ bùi" giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ cách mạng. Biết bao tình nghĩa sâu nặng trong "củ sắn" "bát cơm" "chăn sui"... mà người cán bộ cách mạng đã chịu ơn Việt Bắc. Đây là một hình ảnh đậm đà tình giai cấp.

+ Nhớ người mẹ Việt Bắc:

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng.

Đu con lên  rẫy bẻ từng bắp ngô

            Hình ảnh chọn lọc: Người mẹ nắng cháy lưng... gợi người đọc liên tưởng đến sự tần tảo chắt chiu cần cù lao động của bà mẹ chiến sĩ trong kháng chiến đã đùm bọc cưu mang chiến sĩ cán bộ cách mạng. Đó là hình ảnh tiêu biểu cho cái đẹp cái ân tình trong cuộc sống kháng chiến không thể phai nhòa trong kí ức của người về xuôi .

+ Nhớ cảnh sinh hoạt cơ quan và những âm thanh quen thuộc: Nhớ sao lớp học i tờ

Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa...

Đoạn thơ còn dựng lại những khung cảnh quen thuộc với những hình ảnh và âm thanh hết sức tiêu biểu cho sinh hoạt trong kháng chiến Việt Bắc. Câu thơ đối ý mà nêu bật tinh thần lạc quan yêu đời của cán bộ chiến sĩ cách mạng dù cuộc sống còn rất gian khổ khó khăn :

"Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo"

Âm thanh "tiếng mõ rừng chiều" "chày đêm nện cối đều đều suối xa" là âm thanh đặc trưng của Việt Bắc phản ánh sinh hoạt yên ả bình dị nơi núi rừng gợi nhớ một thời đã qua.

3. Bức tranh tứ bình của Việt Bắc với bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông.

* Bức tranh tứ bình:

Ta về mình có nhớ ta

.... Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

a. Đoạn này đ­ược xem là đặc sắc nhất Việt Bắc. 10 câu lục bát thu gọn cả sắc màu 4 mùa cả âm thanh cuộc sống cả thiên nhiên con ngư­ời Việt Bắc.

Ta về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng ng­ười

Tố Hữu lựa chọn thật đắt hình ảnh đối xứng : hoa - người. Hoa là vẻ đẹp tinh tuý nhất của thiên nhiên kết tinh từ h­ương đất sắc trời t­ương xứng với con ng­ười là hoa của đất. Bởi vậy đoạn thơ đư­ợc cấu tạo: câu lục nói đến thiên nhiên câu bát nói tới con ngư­ời. Nói đến hoa hiển hiện hình ng­ười nói đến ngư­ời lại lấp lóa bóng hoa. Vẻ đẹp của thiên nhiên và con người hòa quyện với nhau tỏa sáng bức tranh thơ. Bốn cặp lục bát tạo thành bộ tứ bình đặc sắc.

b. Tr­ước hết đó là nỗi nhớ  mùa đông Việt Bắc - cái mùa đông thuở gặp gỡ ban đầu đến hôm nay vẫn sáng bừng trong kí ức.

Rừng xanh hoa chuối đỏ t­ươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lư­ng

Câu thơ truyền thẳng đến ngư­ời đọc cảm nhận về một màu xanh lặng lẽ trầm tĩnh của rừng già. Cái màu xanh ngằn ngặt đầy sức sống ngay giữa mùa đông tháng giá. Cái màu xanh chứa chất bao sức mạnh bí ẩn "Nơi thiêng liêng rừng núi hóa anh hùng". Màu xanh núi rừng Việt Bắc:

Rừng giăng thành lũy thép dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù

Trên cái nền xanh ấy nở bừng bông hoa chuối đỏ tươi thắp sáng cả cánh rừng đại ngàn làm ấm cả không gian ấm cả lòng ngư­ời. Hai chữ "đỏ tư­ơi" không chỉ là từ ngữ chỉ sắc màu mà chứa đựng cả một sự bừng thức một khám phá ngỡ ngàng một rung động rất thi nhân.

Có thể thấy cái màu đỏ trong câu thơ Tố Hữu như­ điểm sáng hội tụ sức mạnh tiềm tàng chốn rừng xanh đại ngàn lấp lóa một niềm tin rất thật rất đẹp. Trên cái phông nền hùng vĩ và thơ mộng ấy hình ảnh con ngư­ời xuất hiện thật vững chãi tự tin. Đó là vẻ đẹp của con người làm chủ núi rừng đứng trên đỉnh trời cùng tỏa sáng với thiên nhiên "Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng".

c. Cùng với sự chuyển mùa (mùa đông sang mùa xuân) là sự chuyển màu trong bức tranh thơ: Màu xanh trầm tĩnh của rừng già chuyển sang màu trắng tinh khôi của hoa mơ khi mùa xuân đến. Cả không gian sáng bừng lên sắc trắng của rừng mơ lúc sang xuân.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Trắng cả không gian "trắng rừng" trắng cả thời gian "ngày xuân". Hình ảnh này khá quen thuộc trong thơ Tố Hữu hình ảnh rừng mơ sắc trắng cũng đi vào tr­ờng ca Theo chân Bác gợi tả mùa xuân rất đặc tr­ưng của Việt Bắc:

Ôi sáng xuân nay xuân 41

Trắng rừng biên giới nở hoa mơ

Cái sắc trắng tinh khôi bừng nở mỗi độ xuân về làm ngơ ngẩn ng­ười ở thẫn thờ kẻ đi. Người đi không thể không nhớ sắc trắng hoa mơ nơi xuân rừng Việt Bắc và lại càng không thể không nhớ đến con ng­ười Việt Bắc cần cù uyển chuyển trong vũ điệu nhịp nhàng của công việc lao động thầm lặng mà cần mẫn tài hoa:

Nhớ ng­ười đan nón chuốt từng sợi giang

Copyright Phandanhhieu Bui Thi Xuan high School  On thi TN THPT

Hai chữ "chuốt từng" gợi lên dáng vẻ cẩn trọng tài hoa d­ường như­ bao yêu thư­ơng đợi chờ mong ngóng đã gửi vào từng sợi nhớ sợi thư­ơng kết nên vành nón. Cảnh thì mơ mộng tình thì đ­ợm nồng. Hai câu thơ lư­u giữ lại cả khí xuân sắc xuân tình xuân vậy. Tài tình như­ thế thật hiếm thấy.

d. Bức tranh thơ thứ 3 chuyển qua rừng phách - một loại cây rất thư­ờng gặp ở Việt Bắc hơn bất cứ nơi đâu. Chọn phách cho cảnh hè là sự lựa chọn đặc sắc bởi trong rừng phách nghe tiếng ve ran ngắm sắc phấn vàng giữa những hàng cây cao vút ta như­ cảm thấy sự hiện diện rõ rệt của mùa hè. Thơ viết mùa hè hay xưa nay hiếm nên ta càng thêm quí câu thơ của Tố Hữu:

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Ở đây có sự chuyển đổi cảm giác rất thú vị: Tiếng ve kêu - ấn t­ượng của thính giác đã đem lại ấn t­ượng thị giác thật mạnh. Sự chuyển mùa được biểu hiện qua sự chuyển màu trên thảo mộc cỏ cây: Những ngày cuối xuân cả rừng phách còn là màu xanh những nụ hoa còn náu kín trong kẽ lá khi tiếng ve đầu tiên của mùa hè cất lên những nụ hoa nhất tề đồng loạt trổ bông đồng loạt tung phấn cả rừng phách lai láng sắc vàng. Chữ đổ đ­ược dùng thật chính xác tinh tế. Nó vừa gợi sự biến chuyển mau lẹ của sắc màu vừa diễn tả tài tình từng đợt mư­a hoa rừng phách khi có ngọn gió thoảng qua vừa thể hiện chính xác khoảng khắc hè sang. Tác giả sử dụng nghệ thuật âm thanh để gọi dậy màu sắc dùng không gian để miêu tả thời gian. Bởi vậy cảnh thực mà vô cùng huyền ảo.

Trên nền cảnh ấy hình ảnh cô em gái hiện lên xiết bao thơ mộng lãng mạn: "Cô em gái hái măng một mình" nghe ngọt ngào thân th­ơng trìu mến. Nhớ về em là nhớ cả một không gian đầy h­ương sắc. Ng­ười em gái trong công việc lao động hàng ngày giản dị: hái măng. Vẻ đẹp lãng mạn thơ mộng ấy còn đư­ợc tô đậm ở hai chữ "một mình" nghe cứ xao xuyến lạ như bộc lộ thầm kín niềm mến thương của tác giả. Nhớ về em nhớ về một mùa hoa...

e. Khép lại bộ tứ bình là cảnh mùa thu. Đây là cảnh đêm thật phù hợp với khúc hát giao duyên trong thời điểm chia tay giã bạn. Hình ảnh ánh trăng dọi qua kẽ lá dệt lên mặt đất một thảm hoa trăng lung linh huyền ảo.

Dư­ới ánh trăng thu tiếng hát ân tình càng làm cho cảnh thêm ấm áp tình ng­ười. Đại từ phiếm chỉ "ai" đã gộp chung ngư­ời hát đối đáp với mình làm một tạo một hòa âm tâm hồn đầy bâng khuâng l­u luyến giữa kẻ ở ng­ời đi giữa con ngư­ời và thiên nhiên.

g. Mỗi câu lục bát làm thành một bức tranh trong bộ tứ bình. Mỗi bức tranh có vẻ đẹp riêng hòa kết bên nhau tạo vẻ đẹp chung. Đó là sự hài hòa giữa âm thanh màu sắc... Tiếng ve của mùa hè tiếng hát của đêm thu màu xanh của rừng già sắc đỏ của hoa chuối trắng tinh khôi của rừng mơ vàng ửng của hoa phách... Trên cái nền thiên nhiên ấy hình ảnh con ngư­ời hiện lên thật bình dị thơ mộng trong công việc lao động hàng ngày.

4. Việt Bắc đánh giặc VB anh hùng

Phân tích đoạn thơ " Nhớ khi... Nhị Hà"

Thiên nhiên VB không chỉ được cảm nhận bởi vẻ đẹp của 4 mùa mà thiên nhiên còn là một nhân tố đắc lực góp phần làm nên cuộc kháng chiến toàn thắng.

Câu thơ mở đầu gợi lên một bối cảnh chiến tranh tao loạn " Nhớ khi giặc đến giặc lùng". "Giặc đến" là thời điểm nguy kịch "giặc lùng" là cảnh nguy biến hoảng loạn tan tác loạn lạc. Câu thơ làm ta liên tưởng tới cảnh chạy loạn trong thơ Nguyễn Đình Chiểu:

Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy

Mất tổ đàn chim dáo dác bay

Hay cảnh tang thương trong thơ Hoàng Cầm:

Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô

Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn

Lưỡi dài lê sắc máu

Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

Trước cảnh đau thương ấy rừng núi đã vào cuộc chiến đấu. Với thủ pháp nghệ thuật nhân hóa TH đã dựng nên một rừng núi kiêu hùng cùng ta đánh giặc:

Rừng cây núi đá ta cùng đánh tây

Copyright Phandanhhieu Bui Thi Xuan high School  On thi T

More.....

"Hãy sửa những sai lầm mà các con thấy"

Jan 21 2009 00:32:10

Thư gửi con gái của tổng thống đắc cử Barack Obama:

Ngày 20-1 tới ông Barack Obama sẽ chính thức nhậm chức tổng thống thứ 44 của nước Mỹ. Nhân dịp lịch sử này Tổng thống Obama đã viết thư cho hai cô con gái. Bức thư được tạp chí Parade đăng lại.

Thư gửi con gái của TT đắc cử Barack Obama: "Hãy sửa những sai lầm mà các con thấy"


 "Cha muốn mọi trẻ em của chúng ta được tới trường phù hợp với những tiềm năng chúng có... Cha muốn các bạn cũng có cơ hội đi học đại học dù cha mẹ họ có thể không giàu..." - đó là một trích đoạn trong bức thư của ông Barack Obama gửi hai con gái trước lễ nhậm chức tổng thống Mỹ. Mặc dù là thư gửi cho con gái nhưng ông Obama đã gửi gắm vào đó rất nhiều thông điệp...

 

Gia đình Tổng thống Obama chuẩn bị bước vào hành trình mới  - Ảnh: Afterw.org

Malia và Sasha thân yêu

Chỉ khi các con phấn đấu cho một cái gì lớn hơn bản thân mình các con mới có thể nhận ra hết những gì tiềm tàng thật sự các con đang có.

Cha biết các con đã có nhiều điều thú vị trong hai năm đi theo chặng đường vận động tranh cử: được tới những cuộc picnic diễu hành và hội chợ ăn đủ thứ đồ tạp mà mẹ con và cha đúng ra không nên cho các con như vậy. Nhưng cha cũng biết mọi thứ không dễ chút nào cho các con và mẹ. Dù các con vui thích thế nào với chú cún mới điều đó cũng chẳng thể bù đắp lại được những khoảng thời gian chúng ta xa cách nhau. Cha biết mình đã bỏ lỡ nhiều thế nào trong suốt hai năm qua và hôm nay cha muốn nói cho các con một chút vì sao cha quyết định đưa gia đình ta vào hành trình này.

Khi còn trẻ cha nghĩ cuộc đời tất cả là về bản thân mình - làm cách nào cha có thể tạo dấu ấn được nơi cõi đời này trở nên thành công và đạt được những gì mình muốn. Thế rồi hai con bước vào cuộc đời cha với tất cả những sự tò mò láu lỉnh cùng những nụ cười chưa lúc nào thôi làm tràn ngập trái tim cha và làm rạng ngời những tháng ngày đi qua. Bất ngờ cha nhận ra những kế hoạch to tát cha vạch ra cho chính mình không còn quan trọng nữa.

Cha nhanh chóng thấy niềm vui lớn nhất trong đời mình chính là niềm vui cha thấy được ở các con. Cha nhận ra cuộc đời chẳng còn ý nghĩa nếu cha không đảm bảo cho các con có mọi cơ hội để được hạnh phúc và phát huy được hết những gì nơi các con. Cuối cùng các con à đó chính là lý do cha chạy đua làm tổng thống: vì những gì cha muốn dành cho các con và mọi đứa trẻ ở đất nước này.

Cha muốn mọi trẻ em của chúng ta được tới trường phù hợp với những tiềm năng chúng có - những ngôi trường tạo ra thách thức tạo niềm cảm hứng truyền cho chúng sự ngạc nhiên với thế giới quanh ta. Cha muốn các bạn cũng có cơ hội đi học đại học dù cha mẹ họ có thể không giàu. Và cha muốn các bạn có được những việc làm tốt: những công việc có thu nhập khá và đem lại cho họ những phúc lợi như bảo hiểm y tế những công việc cho phép họ được dành thời gian với con cái và có thể nghỉ hưu trong đàng hoàng.

Cha cũng muốn chúng ta đẩy xa hơn những bờ bến khám phá để con có thể sống nhìn thấy những công nghệ và phát minh mới giúp cải thiện đời sống giúp hành tinh sạch và an toàn hơn. Cha cũng muốn chúng ta đẩy những ranh giới của nhân loại để vượt xa ra khỏi những chia rẽ sắc tộc vùng miền giới tính và tôn giáo vốn đang cản trở chúng nhìn thấy điều tốt đẹp nhất nơi những người khác.

Đôi khi chúng ta gửi những thanh niên nam nữ vào chiến tranh và nhiều tình huống nguy hiểm khác để bảo vệ đất nước - nhưng khi làm vậy cha muốn bảo đảm rằng việc đó chỉ tiến hành khi có một lý do thật chính đáng rằng chúng ta cố gắng hòa giải những khác biệt với nhau bằng con đường hòa bình và làm mọi thứ có thể để những người lính của chúng ta được an toàn. Và cha muốn mọi đứa trẻ hiểu rằng những điều hạnh phúc mà những người lính Mỹ dũng cảm đó đấu tranh không phải tự nhiên mà có rằng vinh dự lớn trở thành công dân của quốc gia này luôn đi kèm với trách nhiệm lớn.

Đó là bài học mà bà con đã dạy cha khi cha bằng tuổi các con đọc cho cha những dòng đầu của Tuyên ngôn độc lập nói cho cha về những người đàn ông và đàn bà đi đấu tranh cho sự bình đẳng vì họ tin rằng những điều đã được viết ra hơn hai thế kỷ trước cần có ý nghĩa gì đó.

Bà giúp cha hiểu rằng nước Mỹ vĩ đại không phải vì nó hoàn hảo mà bởi vì nó luôn có thể được làm cho tốt đẹp hơn rằng công việc còn dang dở để hoàn thiện liên hiệp chung này nằm ở nơi mỗi chúng ta. Đó là trách nhiệm chúng ta chuyển giao cho cháu con của mình để mỗi thế hệ sau lại có thể tiến gần hơn đến một nước Mỹ mà chúng ta biết là nên như vậy.

Cha mong cả hai con sẽ gánh nhận trách nhiệm này hãy sửa những sai lầm mà các con thấy hãy làm việc để trao cho người khác những cơ hội các con đang có. Hãy làm không phải vì các con có nghĩa vụ phải đáp đền một đất nước đã trao cho gia đình ta rất nhiều dù thực tế các con có trách nhiệm đó. Mà hãy làm bởi vì các con có trách nhiệm với chính bản thân mình. Bởi vì chỉ khi các con phấn đấu cho một cái gì lớn hơn bản thân mình các con mới có thể nhận ra hết những gì tiềm tàng thật sự các con đang có.

Có những điều cha rất mong muốn cho các con - được lớn lên trong thế giới không có giới hạn cho những ước mơ của các con không có thành tựu gì nằm ngoài tầm với được trở thành những người phụ nữ đầy lòng thương yêu và tận tụy để giúp xây dựng thế giới này. Cha cũng mong muốn mọi đứa trẻ khác có cùng cơ hội được học được mơ được lớn lên và phát triển như những gì các con đang có. Đó là lý do cha đưa gia đình ta bước vào hành trình lớn này.

Cha rất tự hào về cả hai con. Cha yêu hai con hơn tất cả những gì các con từng biết. Và cha rất biết ơn các con mỗi ngày vì sự kiên nhẫn đĩnh đạc duyên dáng và hài hước mà chúng ta chuẩn bị để bắt đầu cuộc sống mới của mình trong Nhà Trắng.

Yêu các con cha.

Barack Obama

More.....

Một ý kiến bàn về SÔNG ĐÀ của Nguyễn Tuân

Jan 10 2009 05:51:03

Người lái đò sông Đà - Một thiên tùy bút có thần

(Sưu tầm)

Sông Đà - một trận đồ tự nhiên hùng vĩ được xây dựng bằng hai chất liệu nước và đá lỏng và cứng cuồn cuộn tuôn dài nhấp nhô ngang dọc mà tạo hoá đã ban cho vùng Tây Bắc nước Nam ta. Công trình tự nhiên ấy đã và đang biến đổi theo thời gian. Còn một công trình Sông Đà nghệ thuật được xây dựng bằng ngôn ngữ mà Nguyễn Tuân đã để lại cho lịch sử văn học Việt Nam để lại cho đời trên trang tuỳ bút thì mãi mãi vẫn còn nguyên vẹn vẹn nguyên.

Đọc Người lái đò Sông Đà ta như gặp được một cây đại bút "thông tạo hoá" và một ông đò cũng "thấu càn khôn". Cả hai đều thấu hiểu sự ảo diệu của tự nhiên đều nắm vững quy luật xung - hợp sinh - khắc chế hoá lẫn nhau của vũ trụ. Trên trang tuỳ bút Sông Đà vừa cất giấu vừa phô bày vẻ đẹp tuyệt mỹ của tạo hoá - một vẻ đẹp vừa hung hãn như hoang dại lại như tình tứ mộng mơ. Ông đò Lai Châu vừa là người lao động lực lưỡng gân guốc vừa là nghệ sĩ tài ba. Nhiều lúc ta như thấy Nguyễn Tuân hoá thân vào ông đò Lai Châu. Tay lái của ông đò cảm đâu là ứng đó ứng đâu là hành đó không sớm cũng không muộn qua bao thác ghềnh vẫn cứ bình an. Phải chăng trời đã cho ông tuệ nhãn? Thân hình ông khoẻ mạnh "gọn quánh như chất sừng chất mun". Ông còn là nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật vượt thác qua ghềnh. Chất nghệ sĩ trong ông là ở cánh tay chèo lái là ở đôi chân giữ thế tạo đà cứ như là vũ điệu vừa nhịp nhàng vừa ăn ý với bản nhạc giao hưởng của nước sông của đá núi của gió ngàn. Nhưng cái chính của chất nghệ sĩ trong ông là lòng yêu đời yêu nghề say mê khám phá sự huyền diệu cứ bay lên với đôi cánh lãng mạn. Miêu tả ông lái đò Lai Châu Nguyễn Tuân muốn gửi đến người đọc những thông điệp gì? Cuộc sống không phải lúc nào cũng như khúc sông phẳng lặng mà có lúc nhiều lúc thác ghềnh. Sống là phải biết chấp nhận phải bơi lội chèo lái để vượt qua thác băng qua ghềnh chứ không phải là kéo thuyền lên bờ để ngắm nhìn để chờ đợi? Những đoạn văn Nguyễn Tuân miêu tả ghềnh thác ở Sông Đà làm cho người đọc vừa sợ lại vừa yêu vừa muốn lánh xa lại vừa muốn lăn vào. Đây là ghềnh Hát Loóng dài hàng cây số: "Nước xô đá đá xô sóng sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt". Và đây nữa: ".... còn xa lắm mới đến cái thác dưới nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lên réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì rồi lại như là van xin rồi lại như là khiêu khích giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa đang phá tuông rừng lửa." "Sóng thác đã đánh đến đòn độc hiểm nhất.... Mặt sông trong tích tắc loé sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng... Ông đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này". Nguyễn Tuân vừa biết dùng người viết câu hay tả cảnh hợp tả tình sâu nên cuốn hút người đọc và tôn vinh vẻ đẹp của con người của thiên nhiên. Văn của Nguyễn Tuân đúng là như thế vừa "chân nhân" vừa "chân trí" - một thứ văn ngang dọc. Tai nghe tiếng nước mắt ngắm xoáy sâu câu văn đã dứt mà âm thanh vẫn còn vang vọng khí văn vẫn còn phảng phất như khói mây. Vượt qua 73 thác ghềnh ông đò Lai Châu vẫn đĩnh ngộ thông tuệ không để luỵ tâm không làm tổn trí. Đi thuyền không sợ thác ghềnh vừa là dũng lược vừa là mưu lược của Nguyễn Tuân và ông đò Lai Châu. Nguyễn Tuân quan sát ông đò chèo lái con thuyền then vuốt đuôi én giống như thầy trò Khổng Tử xem người đàn ông bơi ở Lã Lương. Nguyễn Tuân cùng với người lái đò Sông Đà vừa tìm kiếm vừa khám phá vừa chinh phục lại vừa tôn vinh. "Thạch trận" trên Sông Đà. Cách xa Nguyễn Tuân cách xa chúng ta mấy trăm năm về trước Nhà Bác học Nhà Danh nhân văn hoá Lê Quý Đôn cũng đã viết về sông Đà. Bên cạnh những ghềnh thác hiểm trở Lê Quý Đôn còn cho ta biết nhiều tư liệu kỳ thú: "Hạ lưu Vạn bờ... có núi Ngải trước mặt trông ra sông Đà đối ngạn là xứ Ngòi Lạt trên núi có cây Ngải Tiên. Mùa xuân hoa rụng xuống nước cá uống nước này liền vượt được Long Môn hoá rồng... sông Đà nước sông trong suốt chảy xuống các động Phà Tây Hảo Tề thuộc châu Quỳnh Nha... Đường sông thác ghềnh hiểm trở gồm 83 thác có tiếng mà Vạn bờ là thác nguy hiểm thứ nhất" (Kiến văn tiểu lục - trang 345)

Nguyễn Tuân đã không còn để pha màu chế bản tạo hình tôn vinh những mẫu đẹp cho đời đã 20 năm nay nhưng trên những trang viết chứa học thuật tụ tinh hoa phong độ Nguyễn Tuân vẫn như núi đứng tinh thần Nguyễn Tuân vẫn như mây bay. Những bản nhạc của nước của đá của thác của ghềnh người đọc người học lắng nghe để mà nghĩ tới cái âm vang sâu thẳm nơi cõi lòng tác giả? Ghềnh sông dài thác sông lớn xoáy nước sâu đã khơi dậy những gì tiềm ẩn nơi sâu kín nhất u linh nhất của tác giả và ông đò Lai Châu. Ghềnh và thác trong tự nhiên cũng là ghềnh và thác trong cuộc sống đã bung nở trong nhãn tuệ của Nguyễn Tuân để Nguyễn Tuân gửi tới người đọc người học qua thiên tuỳ bút có thần.
 

Cảm nhận: NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ (Nguyễn Tuân) « ở: December 26 2008 08:19:54 AM »

Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân là bút ký đặc sắc kết quả của chuyến thâm nhập thực tế vùng sông Đà 1958 - 1960 của nhà văn in trong tập bút ký Sông Đà. Cảm hứng gắn bó với mảnh đất và con người Tây Bắc đã in đậm trong hình ảnh người lái đò nghệ sĩ và con sông Đà vừa hùng vĩ vừa nên thơ.

Bản thân Nguyễn Tuân khi viết nên tác phẩm này đã thực hiện hoàn tất một hành trình khẳng định phong cách tuỳ bút độc đáo của nhà văn khi đi theo con đường cách mạng. Vốn sống và tài năng của người nghệ sĩ tài hoa này đã gặp được môi trường Tây Bắc với bao nhiêu vẻ đẹp tiềm ẩn trong mảnh đất và con người từ đó giúp ông có những phát hiện mới mẻ tô đậm những ấn tượng kỳ vĩ nên thơ về Tây Bắc trong lòng bạn đọc.

Thiên tuỳ bút Người lái đò sông Đà trước hết đem lại cho chúng ta ấn tượng đặc biệt về hình ảnh và công việc của ông lái đò Lai Châu người mà nhà văn đã gọi là bạn trên tinh thần "qui thuận quần chúng một cách tự giác" (chữ dùng của Nguyễn Tuân). Ông lái đò là hình ảnh một người lao động mà sông nước đã in dấu vào trong từng chi tiết ngoại hình : tay lêu nghêu như cái sào chân khuỳnh ra như kẹp lấy một cái bánh lái tưởng tượng giọng nói ào ào như thác lũ sông Đà nhãn giới vòi vọi như nhìn về một bến xa nào đó... Tuổi tác không làm mất đi sức sống mạnh mẽ và lòng yêu mến gắn bó với công việc của ông. Bằng cách tạo ấn tượng đặc biệt về nhân vật từ ban đầu nhà văn dẫn dắt chúng ta vào thế giới sông nước chứa đựng bao thử thách hiểm nguy nhưng có sức cuốn hút riêng với những người ưa thích phiêu lưu mạo hiểm. Bằng thủ pháp của điện ảnh bằng ngôn từ của mình Nguyễn Tuân đã dựng lên cả một thế giới sông nước sinh động : «nước xô đá đá xô sóng sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào tóm được qua đấy". Ấy vậy nhưng ông lão đã tuổi bảy mươi đã bao phen thể hiện tài năng vượt thác leo ghềnh vượt qua thử thách hiểm nguy mà vẫn còn trẻ tráng dẻo dai !

Câu chuyện vượt sông Đà đã được nhà văn kể lại bằng tất cả niềm hứng khởi về sức mạnh con người chiến thắng thiên nhiên với tất cả kịch tính cao trào để tôn vinh nghệ thuật chinh phục thác đá sông Đà. Con sông Đà dữ với thần sông tướng đá bủa giăng thế trận vây lấy chiếc thuyền đơn độc được nhà văn miêu tả bằng ngôn ngữ phong phú của tiểu thuyết chương hồi như gợi cuộc phá vây của mãnh tướng Triệu Tử Long xông vào trận quân Tào Tháo bên cạnh đó nhà văn có những dòng mô tả chân dung bằng giọng văn rất hóm hỉnh của riêng mình : "Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này...". Cuộc đối đầu giữa con người trên chiếc thuyền đơn độc với "boongke chìm và pháo đài nổi" trong "cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn" có sức hấp dẫn đặc biệt. Có lẽ nhà văn đã hình dung ra không khí của những hội vật truyền thống khi miêu tả các cuộc đấu sức đấu trí và đấu sự nhanh nhẹn giữa người và đá nước. Cuộc đấu có miếng có mưu cuối cùng phần chiến thắng thuộc về con người bởi lẽ "Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này". Hình ảnh bình thường của người lao động vật lộn với sóng nước đã được Nguyễn Tuân nâng lên ngang hàng danh tướng "biết mình biết ta trăm trận trăm thắng". Nhưng điều tác giả tô đậm nét hơn ở ông lái đò chính là chất nghệ sĩ toát lên từ công việc đối mặt với hiểm nguy đã trở thành bình thường. Ngay sau khoảnh khắc chiến thắng sức mạnh của thác đá sóng dữ thì "sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình". Đây mới chính là ông lái đò mang đậm nét Nguyễn Tuân. Con người chiến đấu với sông Đà dữ cũng chỉ là để mưu sinh "ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái thác" nên những con người này cũng yêu mến dòng sông đã cho họ những "cá anh vũ cá dầm xanh" những hầm cá hang cá "túa ra đầy tràn ruộng". Sông Đà dữ thì có "diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một" nhưng khi sông nước thanh bình vẻ đẹp nên thơ gợi cảm của dòng sông lại hiện về nguyên vẹn.

Nhà văn đã dành những trang viết thấm đẫm chất trữ tình để miêu tả vẻ đẹp dịu dàng của dòng sông mang trong lòng những huyền sử thuở khai thiên lập địa của cha ông. "Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn khói núi Mèo đốt nương xuân." "Mùa xuân dòng xanh ngọc bích..." "mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa"...Đó là thời điểm cho câu chữ Nguyễn Tuân lai láng chất thơ ca ngợi vẻ đẹp của dòng sông bằng cái nhìn và tình cảm của một người tự nhận sông Đà như một "cố nhân". Không gian lắng đọng trong vẻ đẹp của "bờ sông Đà bãi sông Đà chuồn chuồn bươm bướm sông Đà". Vẻ đẹp ấy như trang nghiêm trong mạch Đường thi cổ điển vừa lắng đọng hoài vọng về một thuở Lý Trần Lê vừa bâng khuâng cảm giác về sự sống nảy lộc đâm chồi : "Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa". Nhà văn đã để cho dòng cảm xúc dào dạt thốt lên thành lời đối thoại im lặng với thiên nhiên bờ bãi ven sông dường như con người muốn hoà vào cùng cảnh vật để chiêm ngưỡng vẻ đẹp đầy sức cuốn hút của dòng sông. Ngòi bút nhà văn đến lúc này mới thật sự tung hoành trong sự say sưa khám phá cội nguồn kể về lịch sử dòng sông gắn với cuộc sống và con người Tây Bắc những người đã đón nhận những tặng vật hào phóng của sông Đà. Cảm xúc từ thực tại của Nguyễn Tuân còn khơi nguồn cho những mơ ước mang tính dự báo về tương lai biến sức mạnh của dòng sông trái tính trái nết thành nguồn thủy điện dồi dào. Rõ ràng thực tại cuộc sống mới đã giúp cho Nguyễn Tuân có những dự cảm chính xác có niềm tin vững chắc vào những con người đang xây dựng một chế độ mới đem lại sinh khí mới cho cuộc sống ở sông Đà.

Với Người lái đò sông Đà này Nguyễn Tuân đã ghi dấu ấn không trộn lẫn của mình ở thể loại tùy bút bám sát hiện thực say mê khám phá những nét ấn tượng những vẻ đẹp tiềm ẩn từ hiện thực. Hơn thế nữa tác phẩm còn đánh dấu sự vững vàng trong tư tưởng tình cảm của nhà văn sự nhạy cảm tinh tế của một tâm hồn nghệ sĩ yêu đất nước yêu con người lao động yêu và tin vào cách mạng vào con đường dân tộc đang hướng tới. Tấm lòng ấy tài năng ấy của Nguyễn Tuân thật đáng trân trọng./.

Trần Hà Nam

More.....

THƠ CỦA THẦY

Dec 31 2008 12:17:32

VỚI SÔNG


Những dòng sông nôn nao chảy về phía biển
Tôi giàu sang ý nghĩ về sông
Những giọt mát phù sa chăm chút cho tôi tiếng hát
Quê mùa như hương nội gió đồng.

Những tuổi thơ bạn bè tôi tắm trưa chết đuối

Những giấc mơ học trò bềnh trôi lũ lụt

Sẽ nhiều lần tôi khóc sẽ vì sông tôi khóc

Những chiêm bao ngập lụt nỗi buồn.



Những chiêm bao như kiến bò nỗi nhớ

Tôi phố phường thèm mòi mặn đồng quê

Với mùa đông giá rét bầm tay mẹ

Những hoàng hôn ơi! Mẹ có chờ.



Sông tiễn tôi đi sông khóc tôi đi

Bàn chân mòn những hoang mê viễn xứ

Ký ức trôi những vòng tay tuyệt tự

Sông níu tôi về tôi tím phía ngày đi.



PHAN DANH HIẾU
(Biên Hòa Đồng Nai)

 

More.....

ĐẤT NƯỚC NKĐ

Dec 18 2008 21:53:34

 

ĐẤT NƯỚC

NKĐ

Từ đầu đến ... làm nên đất nước muôn đời"

Hoàn cảnh ra đời: (Trường ca MĐKV)

- Được hoàn thành năm 1971 tại chiến khu Trị Thiên in lần đầu năm 1974 viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước về sứ mệnh của thế hệ mình trong cuộc chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.

- Trường ca MĐKV gồm 9 chương trong đó nhà thơ dành riêng một chương V để nói về "Đất nước". Đoạn trích "Đất nước" trong SGK là trích trong phần đầu chương V là đoạn thơ hay về đề tài đất nước trong thơ Việt Nam hiện đại.

+ Khác với nhiều tác giả đi trước và một số cây bút cùng thế hệ thường lấy yếu tố lịch sử của các triều đại để chiêm ngưỡng hình ảnh của Tổ quốc và hay  dùng những hình ảnh kì vĩ mĩ lệ mang tính biểu tượng để thể hiện cảm nhận của mình về đất nước. Nguyễn Khoa Điềm thì khác ông lại  lại bắt đầu từ những yếu tố văn hóa gần gũi giản dị. thân thiết để dựng nên hình ảnh đất nước Việt Nam.

Chín câu thơ đầu mở ra một không gian thời gian không hạn định nhưng đậm đà văn hóa dân tộc.

Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi

Đất nước có trong những cái ngày xửa ngày xua... Mẹ thường hay kể.

Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàng

Đất nước có từ ngày đó...

Bằng giọng thơ ngọt ngào thủ thỉ như lời bà lời mẹ tâm tình cùng với sự am hiểu vốn văn hóa dân gian sâu sắc cùng với việc sử dụng chất liệu dân gian như mượn thành ngữ ca dao tục ngữ dân gian để lí giải nguồn gốc đất nước bằng chính những gì bình dị và gần gũi nhất. Đây là một kiểu lí giải đặc biệt làm nên cái hay của chương thơ Đất Nước. NKĐ nhẹ nhàng ghi vào lòng ta đưa ta trở về với một miền ấu thơ để được nghe bà nghe mẹ kể những câu chuyện cổ tích thần thoại mà câu chuyện nào cũng đẹp cũng giàu chất thơ. Không chỉ thế nhà thơ còn đưa ta về với những phong tục văn hóa đẹp tươi như tục nhuộm răng đen tục ăn trầu của người Việt cổ mà bây giờ ta lại bắt gặp qua miếng trầu dung dị bà ăn hằng ngày đó là tục bới tóc sau đầu tạo nên nét duyên Việt thuần hậu chất phác giàu nữ tính của người phụ nữ tục làm nhà kèo cột để chống đỡ thiên tai. Và đâu chỉ có phong tục đất nước còn đẹp hơn bởi truyền thống đó là truyền thống đánh giặc cứu nước qua hình ảnh Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc của chàng trai Phù Đổng tục gọi là Gióng. Truyền thống ấy qua bao nhiêu thế hệ vẫn cháy rực cho tới tận bây giờ. Đất nước còn đẹp bởi truyền thống ân nghĩa thủy chung - cội nguồn gốc rễ của đạo lí dân tộc qua tình yêu của mẹ của cha "Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn" . Đó còn là truyền thống lao động cần cù chịu thương chịu khó qua câu thơ Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàng . Để làm nên hạt gạo trắng dẻo thơm mà ta ăn hằng ngày ai biết được người nông dân đã phải trải qua bao khó khăn vất vả "một nắng hai sương" trải qua nhiều công đoạn " xay giã dần sàng" mới cho ra thành quả. Bởi vậy ăn hạt gạo dẻo thơm ta phải nhớ tới công ơn của người đã làm ra nó " Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần".

Chốt lại đoạn thơ mở đầu NKĐ nhẹ nhàng ghi khắc vào lòng ta: Đất nước có từ ngày đó...Ngày đó là ngày nào? Xin thưa ngày đó là ngày đất nước ta có phong tục truyền thống có văn hóa. Mà có văn hóa nghĩa là ta có Đất Nước.

Đất Nước không chỉ có chiều sâu văn hóa Đất Nước còn được NKĐ cảm nhận bởi chiều rộng của không gian địa lý và thời gian lịch sử.

Nhà thơ NKĐ đã rất sáng tạo khi tách Đất Nước thành hai thành tố " Đất" và "Nước" để có dịp định nghĩa một cách hoàn chỉnh nhất về đất nước. Trong không gian địa lý bao la tất cả đều trở nên gần gũi thiêng liêng. Gần gũi và thân thương như con đường rợp bóng hàng cây mà hằng ngày anh đi học gần gũi như dòng nước trong xanh mát lành nơi em tắm gần gũi như cây đa giếng nước mái đình nơi ta hò hẹn:

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất Nước là nơi ta hò hẹn

Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm...

Đất _ Nước một yếu tố thuộc âm một yếu tố thuộc dương có khi tách đôi có khi hòa hợp. Nhất là khi hai đứa hẹn hò ĐN cũng trở nên thân thương gần gũi đất nước nồng thắm trong cả anh và em đất nước cũng là chứng nhân cho tình yêu của hai đứa. Câu thơ Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm... làm ta nhớ đến câu ca dao "Khăn thương nhớ ai khăn rơi xuống đất/ Khăn thương nhớ ai khăn vắt lên vai/ Khăn thương nhớ ai/ Khăn chùi nước mắt". Vâng khi hai đứa yêu nhau thì tất cả mọi thứ đều đẹp chiếc khăn quàng bỗng trở nên có duyên thầm của người con gái cả đất nước như cùng sống trong tình yêu ngọt ngào sống trong "nỗi nhớ thầm"  của anh và em.

Đất nước là rừng vàng biển bạc bao la từ Bắc chí Nam là "nơi dân mình đoàn tụ" ĐN ngọt ngào như câu hò điệu hát:

Đất là nơi "con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc"

Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi"

Về lịch sử Đất Nước được cảm nhận bằng chiều sâu của "Thời gian đằng đẵng". NKĐ đưa ta trở về với khởi thủy cội nguồn dân tộc dòng giống con người VN bằng truyền thuyết "Lạc Long Quân và Âu Cơ / Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng" lập ra triều đại đầu tiên của dân tộc đó là Vua Hùng (tục truyền tới 18 đời). Bởi vậy nhà thơ luôn nhắc nhở mọi người phải nhớ về cội nguồn dân tộc phải biết gánh vác sứ mệnh đất nước " Gánh vác phần người đi trước để lại" duy trì giống nòi dân tộc " Yêu nhau và sinh con đẻ cái" và nhất là phải nhớ đến ngày giỗ Tổ vào ngày 10.3 âm lịch hằng năm " Hằng năm ăn đâu làm đâu/ Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ". Đó chính là truyền thống uống nước nhớ nguồn một đạo lí bất di bất dịch của dân tộc.

ĐN hiện diện và kết tinh trong mỗi con người trong anh và em:

Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần Đất Nước

Khi hai đứa cầm tay

Đất nước trong ta hài hòa nồng thắm

Khi hai đứa cầm tay mọi người

Đất nước trong ta vẹn tròn to lớn

Đất nước là của anh và em và cũng là của tất cả mọi người. Anh và em là hai tế bào trong hàng triệu triệu tế bào góp mình dựng xây đất nước. Đất nước không ở đâu xa mà kết tinh hóa thân trong cuộc sống của mỗi con người. Sự sống mỗi cá nhân không chỉ là riêng của cá nhân mà còn là của Đất nước bởi mỗi cuộc đời đều được thừa hưởng những di sản văn hóa tinh thần và vật chất của dân tộc của nhân dân mỗi cá nhân phải có trách nhiệm gìn giữ phát triển nó truyền lại cho các thế hệ tiếp theo.

            Cầm tay là một biểu tượng của tình yêu của tình đoàn kết dân tộc. Khi hai đứa cầm tay tình yêu trong anh và em làm cho đất nước bỗng hài hòa nồng thắm. Nhưng khi hai đứa hòa mình vào mọi người hòa cái riêng vào cái chung của cộng đồng thì đất nước vẹn tròn to lớn. Tinh thần đoàn kết của khối đại đoàn kết toàn dân được mở rộng được nhân đôi nối thành một vòng Việt Nam rộng lớn và vĩnh cửu không gì có thể phá vỡ nổi.

Bốn câu thơ cuối đoạn như một lời nhắn nhủ thân tình:

Em ơi em đất nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên đất nước muôn đời

Từ sự cảm nhận nói trên về Đất nước tác giả bày tỏ thái độ đầy trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc gìn giữ xây dựng cho đất nước bền vũng muôn đời: "Đất nước là máu xương mình" là sinh mệnh của mình. Vận mệnh của đất nước chính là vận mệnh của chính bản thân mình. Số phận của cá nhân nằm trong vận mệnh của ĐN bởi vậy nhà thơ đã hai lần nhấn mạnh điệp ngữ "Phải biết": gắn bó và san sẻ  nghĩa là  đoàn kết yêu thương giúp đỡ nhau bảo vệ đất nước dân tộc. "Hóa thân" chính là sự cống hiến sự hiến dâng tuyệt đối tinh thần và công sức tuổi trẻ của mình vì sự phát triển đi lên của dân tộc. Đối với người học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường thì chúng ta phải biết siêng năng chăm chỉ học tập để đắp xây một tương lai sáng lạng góp phần công sức của mình vào sự nghiệp chung của đất nước có như vậy thì ĐN mới vĩnh cửu đến muôn đời.

More.....

ĐÀN GHITA CỦA LOR-CA

Dec 14 2008 08:35:22

 

ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA

 

 

ĐÀN GHITA CỦA LOR-CA

1. Lor-ca

Lor-ca sống ở cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là một trong những tài năng sáng chói của VH hiện đại Tây Ban Nha. Là nhà thơ nhân dân người chiến sĩ chống phát xít một con người đa tài trên nhiều lĩnh vực: thơ ca hội họa âm nhạc sân khấu... Sống dưới chế độ phát xít bạo tàn Lor-ca mang khát vọng cách tân nền nghệ thuật đã già nua của Tây Ban Nha. Ông còn cổ vũ cho nhân dân đấu tranh chống lại bọn phát xít độc tài. Trước những ảnh hưởng to lớn của Lor-ca bọn phát xít đã hèn hạ bắt giam và thủ tiêu ông. Cái chết của ông để lại nhiều xót thương cho dân tộc TBN nói riêng và cả thế giới nói chung.

Ý nghĩa tiếng đàn Lor-ca. RẤT QUAN TRỌNG CÁC EM HỌC THUỘC.

- Đàn ghi ta là dụng cụ âm nhạc đặc trưng của xứ sở TBN còn gọi là Tây Ban cầm. Đi suốt chiều dài bài thơ là âm hưởng của tiếng đàn ngân vang "li-la li-la li-la". Hình tượng tiếng đàn xuất hiện nhiều lần trong bài thơ : tiếng đàn bọt nước tiếng ghi ta nâu tiếng ghi ta lá xanh tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan tiếng ghi ta ròng ròng tiếng đàn như cỏ mọc hoang... tất cả đều tượng trưng cho hình ảnh Lor-ca và cuộc đời của ông.

- Đàn ghi ta là hình ảnh gắn liền với cuộc đời và số phận của Lor-ca là linh hồn của Lor-ca. Người nghệ sĩ ấy đã dùng cây đàn lang thang khắp đất nước để hát ca những ca khúc tự do đấu tranh vì tự do và đấu tranh vì một nền nghệ thuật mới.Tiếng đàn ghi ta ở đây được thể hiện với nhiều cung bậc khác nhau : khi là âm thanh vui tươi khi là âm thanh chia cắt tan vỡ khi là âm thanh của cái chết khi là giai điệu của tình yêu.

- Tiếng ghi ta là ẩn dụ hay nói đúng hơn là bài ca về cuộc đời số phận và cái chết của Lor-ca. Cuộc đời của con người ấy như tiếng đàn ghi ta với thanh âm trong trẻo làm lay động lòng người. Lor-ca đi về cõi vĩnh hằng nhưng tiếng đàn của ông linh hồn của ông vẫn sống mãi bất diệt và mạnh mẽ


KHỔ 4 :QUAN TRỌNG

Những câu thơ tiếp theo như đặc tả cho một sự sống khác mãnh liệt âm thầm mà bất tử :

không ai chôn cất tiếng đàn

tiếng đàn như cỏ mọc hoang

giọt nước mắt vầng trăng

long lanh trong đáy giếng

Đoạn thơ tái hiện khoảnh khắc kẻ thù của Lorca hèn hạ thủ tiêu chàng ném xác xuống giếng  nhưng qua hình tượng âm thanh tiếng đàn ta nhận ra một sức sống mãnh liệt vẫn tiếp tục. kẻ thù có thể vùi chôn thân xác của Lor-ca nhưng không thể vùi lấp và tiêu diệt được tinh thần và linh hồn của ông. Thanh Thảo rất có ý thức khi so sánh tiếng đàn với cỏ mọc hoang để cảm nhận về sức lan toả của sự sống mãnh liệt không gì có thể hủy hoại được. Sau khi Lor-ca chết tiếng đàn ấy vẫn ngân vang như loài cỏ mọc hoang man dại đầy sức sống.

Nghĩa khác: Lor-ca chết đi giữa lúc khát vọng chưa thành. Khát vọng cách tân nền nghệ thuật già nua bị dừng lại giữa đường. Kẻ dẫn đường đã hi sinh. Nghệ thuật thiếu kẻ dẫn đường thì sẽ như cỏ mọc hoang mà thôi.

giọt nước mắt vầng trăng

long lanh trong đáy giếng

Hai câu thơ bắt nguồn từ một sự việc thực: kẻ thù giết chết Lor-ca và quẳng xác ông xuống giếng để phi tang. Lor-ca và tâm hồn của ông cao khiết như vầng trăng. Nước mắt vầng trăng là sự thương tiếc cho vầng trăng hay nước mắt sáng trong và vĩnh cửu như vầng trăng ?Giếng nước nơi kẻ thù vứt xác anh lại là nơi tỏa sáng long lanh tâm hồn anh. Sự vùi lấp hóa thành sự thăng hoa sự thê thảm chuyển hóa thành sự tôn vinh. Và đó là sự bất tử của người anh hùng.

 

More.....

Nghị luận về hiện tượng học lệch!

Nov 10 2008 19:18:24


Nghị luận về Hiện nay có hiện tượng HS học lệch thường lựa chọn các môn tự nhiên mà bỏ bê các môn xã hội.

Dàn ý:
A. Mở bài

B. Thân bài
1. Thực trạng của việc học lệch
Hiện đang là một xu hướng của rất nhiều học sinh thiên về các môn tự nhiên mà thiếu quan tâm tới các môn xã hội hoặc có quan tâm thì cũng rất sơ sài.
2. Nguyên nhân
- Xã hội phát triển việc lựa chọn nghề thiên về kinh tế.
- Do phụ huynh ép con cái phải học tự nhiên để thi vào những n nghề liên quan đến việc làm kinh tế như: ĐH Kinh tế ĐH ngân hàng...
- Ít quan tâm đến những n nghề có thu nhập thấp.
.............

3. Hậu quả
- Học lệch dẫn đến việc ....
.......
4. Nêu lợi ích và ý nghĩa của việc học các môn xã hội.
5. Biện pháp giải quyết vấn đề trên.
 

More.....