TÂY TIẾN (Phân tích đầy đủ)

May 29 2009 05:45:40

 

PHÂN TÍCH THƠ HAY VĂN XUÔI THÌ TRƯỚC KHI KẾT BÀI PHẢI NÓI VỀ NGHỆ THUẬT CỦA TÁC PHẨM:
Văn xuôi thì thường kết là: bằng nghệ thuật miêu tả tài tình cộng với ngôn ngữ mộc mạc giản dị tác giả đã làm hiện lên....

TÂY TIẾN

Quang Dũng

 


Câu 1
: Vài nét về tác giả Quang Dũng ? Giới thiệu về đoàn quân Tây Tiến ? Hoàn cảnh ra đời bài thơ Tây Tiến ?

a. Tác giả

Quang Dũng (1921 - 1988) tên khai sinh: Bùi Đình Diệm (tức Dậu).

Quê: Đan Phượng Hà Tây.

Là nghệ sĩ đa tài: làm thơ viết văn vẽ tranh soạn nhạc...

2001 được tặng giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật.

Tác phẩm chính:

Mây đầu ô (thơ - 1986) Mùa hoa gạo Tuyển thơ văn Quang Dũng (1988)

b. Giới thiệu đoàn quân Tây Tiến

Thành lập đầu năm 1947. Quang Dũng là đại đội trưởng.

Thành phần: đa số là thanh niên Hà Nội trong đó có sinh viên và học sinh.

Nhiệm vụ: phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao lực lượng Pháp ở Thượng Lào miền Tây Bắc bộ Việt Nam góp phần bảo vệ biên giới Lào - Việt.

Địa bàn hoạt động: khá rộng gồm Sơn La Hòa Bình Sầm Nứa (Lào) vòng về miền tây Thanh Hóa.

Điều kiện chiến đấu gian khổ: núi cao vực thẳm rừng dày thú dữ sốt rét hoành hành.

c. Hoàn cảnh ra đời bài thơ:

1948 đơn vị Tây Tiến giải thể thành lập trung đoàn 52.

Cuối 1948 Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Bài thơ được sáng tác tại Phù Lưu Chanh sau khi rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu. Lúc đầu có tên Nhớ Tây Tiến sau khi in lại trong tập Mây đầu ô tác giả đổi tên thành Tây Tiến.

Câu 2: Phân tích bài thơ Tây Tiến.

 

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng.

Cảm hứng lãng mạn là niềm lạc quan yêu đời đạp bằng tất cả những gian khổ hi sinh mất mát hướng về tương lai hi vọng trông chờ.

Cảm hứng bi tráng (bi hùng): bi là đau thương hùng là hào hùng nghĩa là vừa bi thương lại vừa hào hùng.

1. Khổ 1 ( Sông Mã ... nếp xôi)

 

Bài thơ mở đầu bằng hai câu thơ gợi nhớ gợi thương:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến  ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

•-                         Vần "ơi" kết hợp từ láy "chơi vơi" là vần bằng tạo âm hưởng của tiếng gọi đồng vọng miên man không dứt câu thơ sâu lắng bồi hồi ngân dài từ lòng người vọng vào thời gian năm tháng lan rộng lan xa trong không gian. Nỗi nhớ như có hình dáng của núi non của hồn cây vách đá con sông.

•-                         Tác giả gọi tên con Sông Mã đầu tiên trong nỗi nhớ của mình. Vì con sông Mã là người bạn là nhân chứng đã theo suốt bước chân quân hành chứng kiến biết bao buồn vui bao mất mát hi sinh vất vả của người lính TT. Gọi tên TT là gọi tên đồng đội gợi nhớ bạn bè.

•-                         Điệp từ "nhớ" được nhắc lại hai lần góp phần tô đậm cảm xúc nhớ nhung dâng trào của tác giả.

Dẫn chứng minh họa thêm: Thơ ca VN khi nói về nỗi nhớ có nhiều cách diễn tả:

Ca dao có câu:

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa như ngồi đống than

Diễn tả tình cảm cách mạng Tố Hữu có câu:

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương

Nhưng đến Quang Dũng thì nỗi nhớ sáng tạo hơn cả - nhớ chơi vơi. Chơi vơi là trạng thái trơ trọi giữa khoảng không rộng không thể bấu víu vào đâu cả. Nhớ chơi vơi có thể hiểu là một mình giữa thế giới hoài niệm mênh mông bề bộn không đầu không cuối không thứ tự thời gian không gian. Đó là nỗi nhớ da diết miên man bồi hồi làm cho con người có cảm giác đứng ngồi không yên. Và nỗi nhớ ấy tiếng gọi ấy đang đưa nhà thơ về với những kỉ niệm không quên của một thời gian khổ.

•·        Đó là nỗi nhớ về cuộc hành quân giữa núi rừng miền Tây vừa hùng vĩ lại vừa thơ mộng trữ tình được cảm nhận bằng cảm hứng  lãng mạn và tâm hồn lãng mạn hào hoa.

 

Nhớ cuộc hành quân giữa núi rừng miền Tây hùng vĩ:


 


•-         Tác giả gợi nhắc nhiều địa danh xa lạ: Sài Khao Mường lát Pha Luông Mường Hịch Mai Châu... gợi bao cảm xúc mới lạ tác giả như đưa người đọc lạc vào những địa hạt heo hút hoang dại để từ đó dõi theo bước chân quân hành của người lính.

•-         6 câu thơ tiếp theo " Sài khao....xa khơi" diễn tả thật đắc địa sự hùng vĩ của núi rừng miền Tây. 6 câu thơ này là bằng chứng đặc sắc của "thi trung hữu họa" (trong thơ có họa):

Cụ thể:

Con đường hành quân thật gian nan vất vả nguy hiểm với dốc cao vực thẳm:

Sài Khao sương......

Mường Lát.........

+ Trên đỉnh Sài Khao sương dày đến độ lấp cả đoàn quân. Đoàn quân hành quân trong sương lạnh giữa núi rừng trùng điệp mệt mỏi rã rời. Tuy vậy họ vẫn thấy con đường hành quân thật đẹp và thơ mộng: đi trong sương trong hoa đêm hơi.

Dốc lên......

Heo hút...

Ngàn thước...

Nhà ai...

+ Đường đi toàn dốc cao được diễn tả với nhiều từ láy tạo hình "khúc khuỷu" (quanh co khó đi) "thăm thẳm" (diễn tả độ cao độ sâu) "heo hút" (xa cách cuộc sống con người). Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đi liền nhau "dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm"  (bảy chữ mà đã có tới 5 vhwx là thanh trắc) khiến khi đọc lên ta có cảm giác trúc trắc mệt mỏi như đang cùng hành quân với đoàn binh vậy.

+ Đỉnh núi mù sương cao vút. Núi cao tận mây mây nổi thành cồn mũi súng chạm trời. Mũi súng của người chiến binh được nhân hóa tạo nên một hình ảnh: "súng ngửi trời" giàu chất thơ mang vẻ đẹp cảm hứng lãng mạn cho ta nhiều thi vị. Nó khẳng định chí khí và quyết tâm của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao mà đi tới "Khó khăn nào cũng vượt qua - Kẻ thù nào cũng đánh thắng!". Chính vì chất lính trẻ trung ấy mà trước thiên nhiên dữ dội người lính TT không bị mờ đi mà nổi lên đầy thách thức.

+ Thiên nhiên núi đèo xuất hiện như để thử thách lòng người: "ngàn thước lên cao ngàn thước xuống". Hết lên lại xuống xuống thấp lại lên cao đèo nối đèo dốc tiếp dốc không dứt. Câu thơ được tạo thành hai vế tiểu đối: "Ngàn thước lên cao // ngàn thước xuống" làm câu thơ như bẻ đôi diễn tả con dốc với chiều cao sâu rợn ngợp: nhìn lên cao chót vót nhìn xuống sâu thăm thẳm. Hình tượng thơ cân xứng hài hòa cảnh tượng núi rừng hùng vĩ được đặc tả thể hiện một ngòi bút đầy chất hào khí của nhà thơ - chiến sĩ.

+ Có cảnh đoàn quân đi trong mưa: "Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi". Câu thơ được dệt bằng những thanh bằng liên tiếp gợi tả sự êm dịu tươi mát của tâm hồn những người lính trẻ trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Trong màn mưa rừng tầm nhìn của người chiến binh Tây Tiến vẫn hướng về những bản mường những mái nhà dân hiền lành và yêu thương nơi mà các anh sẽ đến đem xương máu  và lòng dũng cảm để bảo vệ và giữ gìn.

+ Sự dữ dội của núi rừng cũng vắt kiệt sức người: "Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục lên súng mũ bỏ  quên đời". Cái chết đậm chất bi hùng: Chết trong tư thế đẹp ôm chắc cây súng trong tay sẵn sàng chiến đấu không quên nhiệm vụ của người lính. Hiện thực chiến tranh xưa nay vốn như thế! Sự hy sinh của người chiến sĩ là tất yếu. Xương máu đổ xuống để xây đài tự do. Vần thơ nói đến cái mất mát hy sinh nhưng không chút bi luỵ thảm thương.

            + Ta trở lại đoạn thơ trên gian khổ không chỉ là núi cao dốc thẳm không chỉ là mưa lũ thác ngàn mà còn có tiếng gầm của cọp beo nơi rừng thiêng nước độc nơi đại ngàn hoang vu:

"Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người"

"Chiều chiều..." rồi "đêm đêm" nhưng âm thanh ấy "thác gầm thét" "cọp trêu người" luôn khẳng định cái bí mật cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêng. Chất hào sảng trong thơ Quang Dũng là lấy ngoại cảnh núi rừng miền Tây hiểm nguy để tô đậm và khắc họa chí khí anh hùng của đoàn quân Tây Tiến. Mỗi vần thơ đã để lại trong tâm trí người đọc một ấn tượng: gian nan tột bậc mà cũng can trường tột bậc! Đoàn quân vẫn tiến bước người nối người băng lên phía trước. Uy lực thiên nhiên như bị giảm xuống và giá trị con người như được nâng cao hẳn

 

Hai câu cuối đoạn thơ cảm xúc bồi hồi tha thiết. Như lời nhắn gửi của một khúc tâm tình. Như tiếng hát của một bài ca hoài niệm vừa bâng khuâng vừa tự hào:

"Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi"

"Nhớ ôi!" tình cảm dạt dào đó là tiếng lòng của các chiến sĩ Tây Tiến "đoàn binh không mọc tóc". Câu thơ đậm đà tình quân dân. Hương vị bản mường với "cơm lên khói" với "mùa em thơm nếp xôi" có bao giờ quên? Hai tiếng "mùa em" là một sáng tạo độc đáo về ngôn ngữ thi ca nó hàm chứa bao tình thương nỗi nhớ điệu thơ trở nên uyển chuyển mềm mại tình thơ trở nên ấm áp.

"Nhớ mùi hương" nhớ "cơm lên khói" nhớ "thơm nếp xôi" là nhớ hương vị núi rừng Tây Bắc nhớ tình nghĩa nhớ tấm lòng cao cả của đồng bào Tây Bắc thân yêu. Mười bốn câu thơ trên đây là phần đầu bài "Tây Tiến" một trong những bài thơ hay nhất viết về người lính trong 9 năm kháng chiến chống Pháp. Bức tranh thiên nhiên hoành tráng trên đó nổi  bật lên  hình ảnh chiến sĩ can trường và lạc quan đang dấn thân vào máu lửa với niềm kiêu hãnh

" Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh...".

Đoạn thơ để lại một dấu ấn đẹp đẽ về thơ ca kháng chiến mà sự thành công là kết hợp hài hòa giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

Nửa thế hệ đã trôi qua bài thơ " Tây Tiến của Quang Dũng ngày một thêm sáng giá.


           

2. Khổ 2 ( Doanh trại...đong đưa)

Bốn câu đầu: (chép vào) đêm liên hoan văn nghệ đậm tình quân dân.

+ Từ " Bừng lên" gợi cảm giác ấm áp gợi niềm vui lan tỏa. Đêm rừng núi thành đêm hội ngọn đuốc nứa đuốc lau thành "đuốc hoa" ("Đuốc hoa" là hoa chúc - cây  nến đốt lên trong phòng cưới đêm tân hôn.)gợi không khí ấm cúng. "Bừng" chỉ ánh sáng của đuốc hoa của lửa trại sáng bừng lên; cũng còn có nghĩa là tiếng khèn tiếng hát tiếng cười tưng bừng rộn rã.

 + Từ "kìa em" thể hiện sự ngạc nhiên ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của cô gái vùng cao trong trang phục "xiêm áo" lộng lẫy cùng dáng vẻ "e ấp" rất thiếu nữ. Những thiếu nữ Mường những thiếu nữ Thái những cô gái Lào xinh đẹp duyên dáng "e ấp" xuất hiện trong bộ xiêm áo rực rỡ cùng với tiếng khèn "man điệu" đã "xây hồn thơ" trong lòng các chàng lính trẻ.Cũng có thể hiểu người lính đang đóng giả con gái trong những trang phục dân tộc rất độc đáo tạo tiếng cười vui cho đêm văn nghệ. Họ càng yêu đời hơn yêu đất bạn hơn " Nhạc về..."

+ Không chỉ thế người lính còn mải mê say trong tiếng nhạc điệu khèn của vùng đất lạ.

4 câu sau: Cảnh sông nước Tây Bắc vừa thực vừa mộng :hoang vắng tĩnh lặng buồn thi vị.

Thời gian: chiều sương ấy gợi màu sắc bảng lảng sương khói vừa có nỗi buồn man mác.

Sông nước hoang dại bên bờ lau lách hoa rừng đong đưa. Hình ảnh "hoa đong đưa" là một nét vẽ lãng mạn gợi tả cái "dáng người trên độc mộc" trôi theo thời gian và dòng hoài niệm. Đoạn thơ gợi lên một vẻ đẹp mơ hồ thấp thoáng gần xa hư ảo trên cái nền "chiều sương ấy". Cảnh và người được thấy và nhớ mang nhiều man mác bâng khuâng. Bút pháp thi pháp của chủ nghĩa lãng mạn để lại dấu ấn tài hoa qua đoạn thơ này.

 

+ Dáng người mềm mại của cô gái Thái Mèo trên chiếc thuyền độc mộc hay dáng người hùng dũng hiên ngang của người lính đang đưa con thuyền tiến về phía trước càng làm cho bức tranh thêm phần thơ mộng.

"Có nhớ" "có thấy" luyến láy khắc họa thêm nỗi nhớ: lưu luyến bồi hồi.

Nghệ thuật:  ngôn ngữ thơ mộc mạc giản dị hồn thơ mang đậm chất lãng mạn hào hoa.

3. Khổ 3

Hình tượng người lính Tây Tiến  bi thương hào hùng lãng mạn.

Giữa nền thiên nhiên khắc nghiệt hình ảnh người lính hiện lên thật kì dị: Quang Dũng đã dùng những hình ảnh rất hiện thực để tô đậm cái phi thường của người lính.

Bi thương: Ngoại hình ốm yếu tiều tụy đầu trọc da dẻ xanh như màu lá. Đoàn quân trông thật kì dị: " TT đoàn binh...oai hùm".

Đó là hậu quả của những ngày hành quân vất vả vì đói và khát của những trận sốt rét ác tính làm tóc rụng không mọc lại được da dẻ héo úa như tàu lá.

Dẫn chứng minh họa thêm:

Giọt giọt mồ hôi rơi

Trên má...............

Anh vệ................

Sao mà................

(TH)

Tôi với anh................

Sốt run......................

Hào hùng: thủ pháp nghệ thuật đối lập giữa ngoại hình ốm yếu và tâm hồn mạnh mẽ: Đoàn binh không mọc tóc" " Quân xanh màu lá" tương phản với " dữ oai hùm". Cả ba nét vẻ đều sắc góc cạnh hình ảnh những " Vệ túm" "Vệ trọc" một thời gian khổ đươc nói đến một cách hồn nhiên. Quân phục xanh màu lá nước da xanh và đầu không mọc tóc vì sốt rét rừng thế mà quắc thước hiên ngang xung trận đánh giáp lá cà " dữ oai hùm" làm cho giặc Pháp kinh hồn bạt vía. " "Đoàn binh" gợi lên sự mạnh mẽ lạ thường của " Quân đi điệp điệp trùng trùng" của "tam quân tì hổ khí thôn ngưu" (sức mạnh ba quân nuốt trôi trâu) . Ba từ " dữ oai hùm" gợi lên dáng vẻ oai phong lẫm liệt oai của chúa sơn lâm người lính TT vẫn mạnh mẽ làm chủ tình hình làm chủ núi rừng chế ngự mọi khắc nghiệt xung quanh đạp bằng mọi gian khổ. "mắt trừng" dữ tợn căm thù mạnh mẽ nung nấu quyết đoán làm kẻ thù khiếp sợ.

Tâm hồn Lãng mạn: Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà còn rất hào hoa giữa bao nhiêu gian khổ thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động trong một nỗi nhớ về một dáng kiều thơm nhớ về vẻ đẹp của Hà Nội - Thăng Long xưa. Trước hết đó là một vẻ đẹp tấm lòng luôn hướng về Tquốc hướng về Thủ đô. Người lính dẫu ở nơi biên cương hay viễn xứ xa xôi mà lòng lúc nào cũng hướng về HNội về quê hương.

4 câu cuối ngời lên vẻ đẹp lí tưởng:

+ Câu " rải rác..." toàn từ Hán Việt gợi không khí cổ kính. Miêu tả về cái chết không né tránh hiện thực. Những nấm mồ hoang lạnh mọc lên vô danh nhưng không làm chùn bước chân Tây Tiến. Khi miêu tả những người lính Tây Tiến ngòi bút của Quang Dũng không hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương bi lụy. Cảm hứng của ông mỗi khi chìm vào cái bi thương lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng của tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi đã bị mờ đi trước lí tưởng quên mình vì Tổ quốc của người lính Tây Tiến.

+ Tinh thần chiến đấu " Chiến trường...". Ba từ "chẳng tiếc đời xanh " vang lên vừa gợi vẻ bất cần đồng thời mang vẻ đẹp thời đại " Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh" cống hiến trọn đời vì độc lập tự do của đất nước của dân tộc.

Dẫn chứng thêm:

- Ôi tổ quốc....................

Như mẹ cha.................

Ôi TQ........................

Cho mỗi ..........................

Hình ảnh ấy làm ta liên tưởng tới vẻ đẹp của những tráng sĩ thời xưa ví như Thái Tử Kinh Kha sang đất Tần hành thích Tần Thủy Hoàng cũng mang tinh thần:Tráng sĩ một đi không trở về

Kết luận: Không chỉ mang vẻ đẹp của thời đại mà ở người lính TT còn phảng phất vẻ đẹp của  tinh thần hiệp sĩ.

Coi nhẹ cái chết: " Áo bào............độc hành"

Hiện thực: Người lính chết không có manh vải liệm chỉ có manh chiếu bọc thân nhưng vẫn xem cái chết nhẹ như lông hồng. Câu thơ của QDũng không dừng lại ở mức tả thực mà đẩy lên thành cảm hứng tráng lệ coi chiếu là áo bào để cuộc tiễn đưa trở nên trang nghiêm cổ kính. QDũng đã tráng lệ hoá cuộc tiễn đưa bi thương bằng hình ảnh chiếc áo bào và sự hy sinh của người lính đã được coi là sự trở về với đất nước với núi sông. Cụm từ "anh về đất" nói về cái chết nhưng lại bất tử hoá người lính nói về cái bi thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ. Chết là về với đất mẹ "Người  hi sinh đất hồi sinh/ máu người hóa ngọc lung linh giữa đời".Mạch cảm xúc ấy đã dẫn tới câu thơ đầy tính chất tráng ca "Sông Mã gầm lên khúc độc hành"

Sông Mã tiễn đưa bằng bản nhạc của núi rừng đượm chất bi tráng như loạt đại bác đưa tiễn những anh hùng về với non sông tổ quốc.

            Nghệ thuật: sử dụng nhiều từ Hán Việt gợi sắc thái cổ kính trang nghiêm. Lời thơ hàm súc vừa đượm chất hiện thực vừa gợi chất hào hùng bi tráng.

4. Khổ cuối

Lời thề son sắt thể hiện tinh thần " Nhất khứ bất phục hồi" - Một đi không trở về.

"Tây tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi..."

Bốn câu thơ khép lại một cảm xúc bâng khuâng làm lòng ta nao nao khó tả. Chàng trai Tây tiến khi ra đi đều không ước hẹn ngày về đều sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn "quyết tử cho tổ quốc quyết sinh". Vì vậy  Cái chết với họ nào có là gì khi Hồn ta hoà vào hồn thiêng của toàn dân tộc bay lên bay lên mãi "chẳng về xuôi".

"Không hẹn ước" rồi lại "thăm thẳm một chia phôi". Quang Dũng khẳng định cái ý niệm "nhất khứ bất phục hoàn" trong hình ảnh anh bộ đội Tây Tiến cũng là cái ý niệm chung cả một thời kỳ một thế hệ con người. Đã nói nhiều điều về Tây Tiến đã nhắc lại nhiều kỷ niệm về Tây Tiến nhưng cuối cùng cái đọng lại sâu nhất bền vững nhất về Tây Tiến là cái tinh thần ấy. Giọng thơ trầm chậm hơi buồn nhưng ý thơ thì vẫn hào hùng.

"Tây Tiến mùa xuân ấy" đã trở thành cái thời điểm một đi không trở lại của lịch sử nước nhà. Sẽ không bao giờ còn có lại cái thuở gian khổ và thiếu thốn đến dường ấy nhưng cũng lãng mạn và hào hùng đến dường ấy.

Jenny

thầy ơi em nghe noi thi tot nghiep nam nay se vao bai Tay Tien va viet Bac lieu co dung k thay?con DH thi sao ha? thay

Mỹ Duyên

Em chào thầy!

Thầy oi nếu như mình muốn phân tích được thơ thì mình phải thuộc tất cả nài thơ phải khong thầy? Ví dụ như đề cho: "em hãy phân tích tình bi tráng trong bài thơ Tây Tiến..." vậy là mình phải thuộc bài thơ rồi thầy hen! Nếu vậy thì đối với những đề chung chung như vậy thì chẳng lẽ tụi em phải thuộc luôn bài thơ Việt Bắc .... rồi!

Onthidh

haphuong: Em cứ phân tích đoạn thơ đó ra như bình thường và thêm vào mấy chữ như đề ra là được rồi em.

haphuong

tay tien

thay oi de nay thi lam the nao a:co y kien cho rang tho QD thuong huong toi ve dep phi thuong li tuong hon la cai doi tu hien thuc.qua doan tho sau hay lam sang to quan diem tren:
Tay tien doan binh khong moc toc.......
Song ma gam len khuc doc hanh
Thay oi giup em nha.cang som cang tot a!
Em cam on thay nhieu!

onthidh

linhkute: Cảm ơn em nhé ít nữa thầy biên soạn lại. hj năm mới vui!

linhkute

bekeomut

uhm em thay bai cua thay rat sau va ki luong. nhung theo em thay nen soan them mot so de bai co the ra ve bai tho nay. nhu the chung em co the nam chac hon.thay nha!

hoa th

cho e hoi chat hoi hoa trong tay tien la ntn a?

baba

tholau1993

chao thay thay co the noi cho em phuong pha p hoc van duoc ko a em hoc kem van wa

thsang993

Bai giang kha ki luong